Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2016

BÍ TÍCH CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT


Năm 2000, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong bài giảng ngày lễ phong thánh Thánh nữ Maria Faustina đã chính thức công bố Chúa nhật II Phục sinh sẽ được gọi là Chúa nhật kính Lòng Thương Xót Chúa. Ngài đã mô tả về Ngày Lễ Kính Lòng Thương Xót Chúa như sau: “Theo một cách đặc biệt, đây là ngày Chúa Nhật dành để tạ ơn về lòng thương xót mà Thiên Chúa đã tỏ ra cho chúng ta trong suốt mầu nhiệm Phục Sinh của Người”.

Ngày Lễ Kính Lòng Thương Xót Chúa cũng chính là Ngày Thứ Tám (Octave Day) của Mùa Phục Sinh như là cách thức để đưa chúng ta đến sự hiệp thông trọn vẹn vào việc Đức Giêsu Phục Sinh. Ngày Lễ này như là một sự hội tụ tất cả các lăng kính vào trong ánh sáng của Chúa Giêsu Phục Sinh. Từ đó tỏa chiếu ra từng tia sáng chói lọi cao vời về tình yêu thương nhân từ và ân huệ của Thiên Chúa cho toàn cả thế giới thông qua sự chiến thắng của Thiên Chúa Phục Sinh trên tội lỗi, sự chết và ma quỷ.

Việc chọn ngày Chúa Nhật thứ nhất sau lễ Phục Sinh làm ngày lễ kính Lòng Thương Xót của Thiên Chúa có một ý nghĩa sâu xa, cho thấy mối dây liên lạc mạnh mẽ giữa mầu nhiệm Phục Sinh của việc Cứu Chuộc và mầu nhiệm Lòng Thương Xót Chúa. Thật vậy, các bài đọc của ba năm phụng vụ trong ngày Chúa Nhật này đều dành để nói về lòng thương xót của Thiên Chúa.

Chiều ngày thứ nhất trong tuần sau khi chịu chết và được mai táng, Đức Giêsu Phục Sinh đã hiện đến giữa các môn đệ vốn đang còn bàng hoàng, lo âu vì những biến cố dồn dập xảy ra. Người cho các ông xem tay và cạnh sườn và nói nói với các ông: "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." (x. Ga 20,19-31).

Đoạn Tin Mừng trên mô tả việc Chúa Giêsu Phục Sinh thiết lập ra Bí Tích Hòa Giải, một trong những bí tích vĩ đại về Lòng Thương Xót của Người. Tội lỗi đã làm con người xa rời Thiên Chúa: Ađam sau khi phạm tội thì lẩn tránh cái nhìn của Người, không dám gặp dù Người đích thân đến tìm ông. Khi đã được thanh tẩy bằng nước qua Bí tích Rửa Tội, con người được giải thoát khỏi tội tổ tông nhưng hậu quả của tội lỗi vẫn làm mọi trật tự nơi vũ trụ, nơi con người bị xáo trộn.

Thánh Phaolô đã cảm nhận rất sâu sắc: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm.” (Rm 7,19). Con người không làm chủ được bản thân của mình. Lý trí báo cho họ biết là điều ấy không đúng, không được làm, nhưng ý chí không còn vâng phục lý trí nữa mà sẵn sàng dấn thân vào điều xấu. Hậu quả của tội lỗi còn làm cho con người sợ ánh sáng, sợ phải đối diện trước mặt Chúa. Thánh Gioan đã nói: “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng.” (Ga 1,5), vì tất cả những điều xấu sẽ bị phơi bày.

Con người càng rời xa Chúa thì càng dễ chìm ngập trong những đam mê của tội lỗi. Tội lỗi làm cho con người bất an, tội lỗi càng nặng bao nhiêu , lương tâm con người càng áy náy buồn phiền bấy nhiêu. Đó chính là tâm trạng của vua Đavít: “Bao lâu con lặng thinh không thú lỗi, thì gân cốt rã rời, cả ngày con gào thét.” (TV 32, 3).

Có lẽ ai trong chúng ta cũng đều có kinh nghiệm về tội lỗi. Một hình ảnh rất cảm động, ngay cả những linh mục khi tĩnh tâm hằng năm cũng đều xếp hàng để được xưng tội. Những người từng ngồi tòa lắng nghe tội của người khác, nhưng khi đối diện với Thiên Chúa, cũng là những tội nhân.

Trước mặt Thiên Chúa ai cũng giống ai, tất cả đều là tội nhân; nhưng khác một điều là người tội nhiều hay ít, kẻ tội này người tội kia. Người càng lớn tuổi, chức càng cao, quan hệ rộng bao nhiêu thì cạm bẫy kéo theo cũng nhiều bấy nhiêu và vì thế bản thân sẽ rất dễ dàng vướng vào tội lỗi. Từ đó dễ nhận ra càng làm lớn thì càng dễ gặp những thử thách cám dỗ và như vậy có khi tội càng nặng hơn! Càng làm lớn ở đây hiểu theo nghĩa lớn về tuổi tác, lớn về địa vị, về kinh nghiệm …

Nhưng Thiên Chúa vẫn luôn chờ đợi và tha thứ tội lỗi cho con người trong suốt lịch sử cứu độ. Trong đáp ca ngày lễ, điệp ca: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (x. Tv 118,1-29) đã nhắc nhở điều đó. Và trong mùa chay, chúng ta cũng đã được nghe rất nhiều câu chuyện trong Kinh Thánh nói về Tình Yêu và Lòng Thương Xót của Người.

Dụ ngôn ”cây vả không ra trái” (Lc 13,6-9) cho thấy lòng thương xót của Thiên Chúa thật vô cùng vô tận và Ngài vẫn kiên nhẫn chờ đợi, mong ngóng chúng ta sinh hoa kết trái theo thánh ý của Ngài. Dụ ngôn “người cha nhân hậu”  (Lc 15,11- 32) cho thấy Thiên Chúa chính là người cha nhân hậu, là Đấng giàu lòng thương xót. Người yêu thương tha thứ đối với các tội nhân, và mặc cho họ phẩm giá làm người. 
Cảm động nhất là câu chuyện về người phụ nữ ngoại tình (Ga 8,2-11). Theo luật Do Thái, bà ta sẽ bị ném đá cho đến chết. Trước khi bị ném đá, người ta đã dắt người tội phạm ấy đến trước mặt Chúa Giêsu, để xem Người cư xử thế nào. Trước vấn đề này, Đức Giêsu chậm rãi viết trên đất, tâm tình như chùng xuống, không hừng hực như những người đang kết án, để làm cho mọi việc lắng đọng. Người chậm giận trước tội lỗi của người phụ nữ và bảo họ rằng: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi”. Câu nói ấy đã đụng chạm vào con tim mỗi người, bởi người ta rất thích ném đá nhau, kết tội nhau, nhưng che giấu tội của mình cho thật khéo. Vì thế khi nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Khi chỉ còn lại một mình Đức Giêsu và người phụ nữ thì đứng ở giữa, Người đã nói: “Tôi không kết án chị đâu!”. Đấng Thánh tinh tuyền và giàu Lòng Thương Xót đã tha tội cho một kẻ đáng chết: “Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”.
Chính vì thế, khi mở Năm Thánh Lòng Thương Xót, ý định của Đức Thánh Cha Phanxicô là muốn khơi lên Lòng Thương Xót để con người đừng lẩn trốn, mà hãy quay về với Thiên Chúa hầu lãnh nhận lòng thương xót của Người. Có khi nào chúng ta bình tâm suy gẫm để nhận ra là mình đã được tha thứ và thoát khỏi án chết đời đời nhờ Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, nhờ Máu và Nước từ Trái Tim đau thương của Chúa trên cây Thánh Giá bị lưỡi đòng chọc mở tuôn đổ ra hay không?!
Năm Thánh Lòng Thương Xót mời gọi chúng ta trở về giao hòa với Thiên Chúa để làm mới lại cuộc đời. Trở về với Thiên Chúa để nhận ra con người thật của mình, tôn vinh Thiên Chúa để được yêu thương hướng dẫn, để rồi không còn buông theo những đam mê trần tục tầm thường. Khi đã sống trong lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa qua Bí Tích Hòa Giải, bổn phận của chúng ta là phải biết đem lòng nhân từ đó của Người đến cho tha nhân, cho hàng xóm láng giềng của chúng ta.
Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói: "Tương lai của nhân loại trên mặt đất này sẽ ra sao? Chúng ta không được biết. Tuy nhiên, con người có thêm tiến bộ thì không may cũng không thiếu kinh nghiệm đớn đau. Nhưng ánh sáng của lòng thương xót Chúa sẽ chiếu sáng đường đi cho con người trong thiên niên kỷ thứ ba. Người cũng cho rằng chỉ khi nào con người cảm nhận được lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa dành cho nhân loại thì con người mới có thể "nhìn vào anh chị em của mình với đôi mắt mới, với thái độ vị tha và liên đới, đại lượng và tha thứ".
Sáng thứ Sáu 04-03-2016, trước khi chủ sự nghi thức sám hối tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tiếp kiến khoảng 500 tham dự viên của khóa học về toà trong. Khóa học nhằm giúp các chủng sinh và linh mục mới chịu chức cử hành đúng đắn Bí Tích Hòa Giải. Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Ai cũng có thể nhận được ơn tha thứ của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Cha yêu thương luôn chờ đợi tất cả con cái Người, nhất là những ai lầm lạc hay những người xa cách. Bí Tích Hòa Giải là nơi đặc biệt để cảm nghiệm lòng thương xót của Thiên Chúa”.
Năm Thánh Lòng Thương Xót là cơ hội để tội nhân làm hòa với Thiên Chúa, là năm Giáo Hội dùng kho tàng ân sủng mà Thiên Chúa đã ban để tha thứ tội lỗi và tha luôn vạ cho dân của Người. Đây quả là một năm hồng ân tuyệt vời, năm mà con người có thể sà vào lòng thương xót của Thiên Chúa để lãnh nhận tình yêu thương, để được ra đi bình an như Chúa đã nói với người phụ nữ tội lỗi. Hãy quay về với Thiên Chúa qua Bí Tích Hòa Giải để ngụp lặn trong lòng thương xót của Ngài như Thánh vương Đavít đã làm:
Bởi thế, con đã xưng tội ra với Ngài,
chẳng giấu Ngài lầm lỗi của con.
Con tự nhủ: "Nào ta đi thú tội với Chúa,"
và chính Ngài đã tha thứ tội vạ cho con.
(Tv 32, 5)






XIN CHO CON ĐỨC TIN


Nếu mắt tôi không thấy
Và ngón tay không xỏ
Những dấu đinh tay Người
Tay không đặt cạnh sườn
Tôi không thể nào tin.

Như ngày xưa Tô-ma
Con người trần mắt thịt
Duy lý, duy thực nghiệm
Luôn hoài nghi, yêu sách
Đòi lý lẽ minh bạch
Nhân, vật chứng rõ ràng
Chỉ tin vào sự thật
Khi mắt thấy, tay sờ.

Đặt ngón tay vào đây
Hãy nhìn xem tay Thầy
Đặt tay cạnh sườn ta
Đừng cứng lòng như đá
Nhưng hãy tin nơi Thầy.

Được mắt thấy, tai nghe
Dung nhan Người sống lại
Tiếng yêu thương tha thiết
Bữa Tiệc ly ngày qua
Đôi tay được đụng chạm
Tới xác thân thánh Người
Tô-ma chợt bừng tỉnh,
Quỳ lạy tôn vinh Người:

Lạy Thiên Chúa của con!
Lạy Thiên Chúa của con!

Anh tin vì thấy Thầy
Phúc thay người không thấy
Nhưng vẫn tin nơi ta.

Con là kẻ hậu sinh
Chỉ tin theo bằng chứng
Của các tông đồ xưa
Qua lời dạy Giáo Hội
Xin cho con Đức Tin
Lòng tin bằng hạt cải
Để rao truyền chân lý
Đức Kitô chịu chết
Phục Sinh sau ba ngày
Cho con người được sống
Hưởng vinh quang với Người.



Jos. Hoàng Mạnh Hùng
Chúa Nhật II Phục Sinh


Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2016

SỨ ĐIỆP VỀ NGÔI MỘ TRỐNG

Không gian và biến cố trở nên lắng xuống sau cái chết của Đức Giêsu, người vô tội. Từ bối cảnh đó, việc bà Maria Madalena ra mộ Chúa không nhằm mục đích cảm tính thực dụng, bởi vì việc tẩm thuốc thơm đã được hai người đàn ông thực hiện vào áp ngày Sa-bat. Bà đến mộ trong tư thế làm chậm đi sự chia cách với người chết.

Sự hốt hoảng bắt đầu khởi sự khi thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi cửa mộ. Bà liền hối hả, chạy vội về báo tin cho các Tông đồ. Việc tảng đá lăn ra ở đây không được báo trước, nhưng đã được chuẩn bị từ trước giờ tử nạn. Chính ngôi mộ trống rỗng đã làm đầy các lời báo trước về cái chết và sự Phục Sinh vinh hiển của Chúa Giêsu.  

Trước tin báo của Madalena, Phêrô và Gioan cũng đã vội vã “chạy” đến mộ Chúa để kiểm tra thực hư. Các ông kiểm tra mộ: xác đã biến mất, nhưng  khăn vải liệm được gấp gọn ghẽ nên kết luận không có chuyện lấy trộm thi thể. Ngôi mộ trống đã làm chứng rằng thân xác Chúa đã không còn ở đó nữa. Ngôi mộ trống cũng đã khơi gợi một niềm hy vọng nơi các ông, khai mở một hành trình cảm nghiệm mới về sự Phục Sinh.

Có sự chênh lệch giữa Gioan và Phêrô khi chứng kiến khăn liệm sắp xếp gọn gàng. Gioan thấy và tin, còn Phêrô chỉ “thấy và ngạc nhiên”. Ngôi  mộ “trống không”, nhưng “đầy” tín hiệu Chúa sống lại. Ngôi mộ đang nói với chúng ta về sự làm mới lòng tin. Tin để hiểu rằng trí óc con người chúng ta không thể hiểu hết được mầu nhiệm Phục Sinh, vì đây là việc của Thiên Chúa làm chứ không phải của con người.

Lời loan báo về Chúa Phục Sinh đã hoán cải các dân tộc, đã làm thay đổi thế giới, đã làm khai sinh Giáo Hội. Không phải vì lời loan báo ấy được giải thích và chứng minh theo khoa học, nhưng vì nó đã được công bố trong quyền năng Chúa Thánh Thần (x. Cv 2). Ðây là một điều đã xảy ra cụ thể nhưng nhiều khi chúng ta không để ý cho đủ vì Chúa Giêsu Phục Sinh làm mới lòng tin mỗi người chúng ta bằng nhiều hình thức khác nhau.


Thế giới và con người hôm nay đang rơi vào những cơn khủng hoảng niềm tin trên nhiều bình diện của đời sống: kinh tế tài chính, chính trị xã hội, những giá trị đạo đức, và ngay cả niềm tin tôn giáo… Thời đại mà con người chúng ta đang sống, ngay cả ở những cường quốc lớn tưởng chừng như rất yên ổn, hóa ra lại quá đỗi bấp bênh với những cuộc khủng hoảng kinh tế, khủng bố, di dân, tị nạn …

Giữa một xã hội như thế, con người dường như đắm mình vào hưởng thụ, mất phương hướng, sống vội … Một số không nhỏ Kitô hữu cũng sống đức tin nửa vời, nhất là những khi gặp khó khăn trong cuộc sống hoặc khi bệnh tật, ốm đau … cũng theo người ta “vái tứ phương” nơi “thầy này, bà nọ”. Họ vẫn chưa cảm, chưa hiểu, chưa nhận ra và trải nghiệm được niềm vui của Phục Sinh, của sự giải thoát, của một đức tin sẽ được sống lại với Chúa Giêsu.

Chính đức tin sẽ dẫn đưa những Kitô hữu chúng ta đến gần hơn với các mầu nhiệm của Thiên Chúa, sẽ là mối dây thiêng liêng nối kết ta với Đấng Phục Sinh, trong Chúa Cha toàn năng và Thánh Thần sáng tạo qua mỗi ngày sống của mình. Nếu chưa thực sự sống và cùng chết với Chúa Kitô trong cuộc đời mình thì chưa có được cảm nghiệm về niềm vui của sự Phục Sinh. Do vậy, người Kitô hữu không thể loan báo Tin Mừng khi chính họ chưa có được một đức tin sâu xa, chưa sống thực sự với mầu nhiệm Phục Sinh.

Cần đẩy đi những tảng đá đang cản trở hành trình tìm kiếm, nhận ra gương mặt Chúa Phục Sinh trong tha nhân. Ngày nay vẫn còn rất nhiều ngôi mộ đang mọc lên từng giờ trên khắp thế giới và người ta đã muốn vùi lấp những con người là hiện thân của Đức Giêsu trong đó. Họ là những nạn nhân của sự bất công và đói khổ, của phản bội và lọc lừa, của các thủ đoạn chính trị cùng đủ loại tội ác. Họ đang chết dần chết mòn trong mộ tối, dưới đáy vực sâu của xã hội, và nhiều người đã thật sự chết.

Những ngôi mộ như vậy đang rất cần các môn đệ của Đức Giêsu như Maria Madalena, Phêrô, Gioan và nhiều người trong chúng ta can đảm “chạy” đến. Đến để hất tung những tảng đá ra khỏi cửa mồ và giải cứu các nạn nhân bằng một tình yêu mãnh liệt với Đức Giêsu. Chính khi đến với họ bằng tất cả lòng thương xót và tình yêu, chúng ta sẽ thấy quyền năng cứu độ vô biên của Chúa Giêsu Phục Sinh được chuyển thông sang ta để làm cho các ngôi mộ đó trống rỗng và các con người đang chết về thể xác cũng như tinh thần ấy được trỗi dậy.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, sứ điệp về ngôi mộ trống đã được gửi gắm cho chúng con từ hơn hai ngàn năm trước, nhưng hiện tại vẫn còn đó những nấm mồ đầy ắp những mảnh đời bất hạnh. Xin Người củng cố và kiên định niềm tin để chúng con có can đảm đến và cứu giúp những ai đang bị chôn sống trong những nấm mồ cuộc đời. Xin Người cho chúng con cảm nghiệm được sức mạnh và sự sống diệu kỳ của sự Phục Sinh để chúng con nhận ra Người luôn hiện diện sống động trong sứ mệnh loan truyền Tin Mừng Phục Sinh cho mọi người. Amen. Alleluia.



Đã đăng trên:
http://www.thanhlinh.net/node/101368

http://gpcantho.com/Bai-Viet-Giao-Phan-Can-Tho-NG%C3%94I-M%E1%BB%98-TR%E1%BB%90NG-9728.aspx

Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2016

XIN CẦU CÙNG THÁNH GIUSE

Giuse thánh đức cao vời
Cây cao bóng cả giữa hàng Thánh nhân
Xứng danh công chính phàm trần
Cành bông huệ trắng nhã hương khiết toàn

Vâng theo ý Chúa an bài
Đưa về làm bạn Nữ trinh thánh triều
Cha nuôi Thiên Chúa làm người
Mẫu gương tuyệt hảo Thánh Hài Nhi theo
Khiêm nhường, thinh lặng ẩn mình
Lo toan Thánh thất ấm êm trong ngoài
Một đời ý Chúa vuông tròn
Vợ hiền, Con thảo tiễn đưa về trời

Xin cầu cùng Thánh quan thầy
Qua lời bầu cử Chúa cho xác hồn
Luôn trong tình mến Thánh Gia
Khi nay và đến lúc tan cõi đời.

Jos. Hoàng Mạnh Hùng


Đã đăng trên:

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2016

NÉM ĐÁ


Ngày xưa khi còn nhỏ, tôi thường thắc mắc khi nghe các cụ ông, cụ bà nói với nhau khi  tính toán thời gian đến lễ Phục Sinh qua các ngày Chúa Nhật: “Ném đá, lễ lá, phục sinh”. Lễ lá, lễ phục sinh thì dễ hiểu, nhưng làm gì có “lễ ném đá” ?!

Thì ra theo sự hiểu biết của các cụ, đoạn Tin Mừng Chúa Nhật thứ V mùa chay nói về người phụ nữ ngoại tình đã được tóm gọn bằng hai từ “ném đá” cho dễ nhớ. Cách nhớ thật đơn giản vì lúc đó lịch Phụng vụ chưa được phổ biến rộng rãi và các phương tiện truyền thông cũng chưa được như bây giờ.

Đoạn Tin Mừng của thánh Gioan thuật lại việc đang khi Chúa Giêsu giảng dậy cho đám đông dân chúng, thì các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn đến trước mặt Đức Giê-su một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, rồi nói với Người: "Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao? "(Ga 8,4-5)

Lúc đó ắt hẳn người phụ nữ ấy nhục nhã lắm bởi vì cái tội bị khơi lên cho toàn dân thiên hạ biết là cái tội phạm một cách thầm kín. Chắc người đàn bà ấy sợ lắm vì theo luật, bà ấy sẽ bị ném đá cho đến chết. Bà đang đối diện với cái chết, không sợ sao được. Cái sợ ấy càng tăng lên gấp bội khi giờ đây bà đang đứng trơ trọi một mình giữa đám đông lăm le gạch đá, đối diện với người thầy của sự công chính chờ sự phán quyết.

Trước mặt Thiên Chúa ai cũng giống ai, tất cả đều là tội nhân. Có khác chăng chỉ là người tội nhiều hay ít, kẻ tội này người tội kia. Có lẽ ai trong chúng ta cũng đều có kinh nghiệm về tội lỗi. Người càng lớn tuổi, chức càng cao, quan hệ càng rộng bao nhiêu thì cạm bẫy kéo theo cũng nhiều bấy nhiêu và vì thế bản thân sẽ rất dễ vướng vào vòng tội lỗi. Từ đó dễ nhận ra càng nhiều tuổi, càng làm lớn … càng dễ gặp những thử thách cám dỗ và như vậy có khi tội càng nặng hơn!

“Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng.” (Ga 1,5). Tội lỗi làm cho con người sợ ánh sáng, sợ phải đối diện trước mặt Chúa. Thiên Chúa là ánh sáng, nên khi đối diện với Người thì mọi tội lỗi sẽ bị phơi bày như Ađam trần truồng trong vườn địa đàng thuở xưa sau khi phạm tội. Càng phạm tội, người ta càng che giấu; tội càng trọng, càng giấu diếm tinh vi. Cái giấu đáng sợ nhất là giấu chính Thiên Chúa, nhưng giấu diếm sao được vì Thiên Chúa luôn luôn thấu suốt tâm hồn của con người!

Trước sự truy vấn gài bẫy nham hiểm của các kinh sư và người Pha-ri-sêu, Đức Giêsu cứ cúi xuống và chậm rãi viết trên đất. Tâm tình như chùng xuống, không hừng hực như những người đang kết án, để làm cho mọi việc lắng đọng. Người chậm giận trước tội lỗi của người phụ nữ và bảo họ rằng: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi”.
Câu nói nhẹ nhàng nhưng thật ý nhị đã đụng chạm vào lương tâm mỗi người trong bọn họ, bởi người ta rất thích ném đá nhau, kết tội nhau, nhưng luôn che giấu tội lỗi của mình cho thật khéo. Câu nói như tiếng chuông giúp lương tâm họ sống lại, bừng tỉnh khỏi mê muội, nhận biết mình tội lỗi. Vì thế khi nghe vậy, họ bỏ đi hết - kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi - không dám kết án người phụ nữ nữa.
Khi chỉ còn lại một mình Đức Giêsu và người phụ nữ, Người ngẩng đầu lên với ánh mắt hiền từ và nhẹ nhàng nói: “Tôi không kết án chị đâu!”. Vị thẩm phán giàu Lòng Thương Xót đã tha tội cho một kẻ đáng chết bằng lời tuyên án dịu dàng nhân hậu. Lời phán xét của Người không sỉ nhục nhưng phục hồi nhân phẩm, đã bỏ qua quá khứ u mê lầm lỗi và mở ra một tương lai hướng thiện: “Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”.
Lúc còn là một cô, cậu thiếu nhi đến tòa giải tội. Ta chỉ xưng những tội rất đơn sơ như: ham chơi, không vâng lời, chửi thề, thậm chí bỏ lễ ngày Chúa nhật… Nhưng khi trưởng thành, chúng ta cảm thấy rất rõ tội lỗi không đơn giản như thế. Người ta có thể phạm tội một cách có ý thức, cố tình bỏ lễ Chúa Nhật, hay có khi đặt một đam mê nào đó lên trên lề luật của Thiên Chúa. Người ta cố tình lẩn tránh, lần lữa việc xưng tội vì sợ ảnh hưởng đến địa vị, sợ bị chê cười … và an tâm với ảo tưởng mình không có tội trước mặt mọi người!
Chính vì thế, khi mở Năm Thánh Lòng Thương Xót, ý định của Đức Thánh Cha Phanxicô là muốn khơi lên Lòng Thương Xót để con người đừng lẩn trốn, mà hãy quay về với Thiên Chúa hầu lãnh nhận lòng thương xót của Người. Có khi nào chúng ta bình tâm suy gẫm để nhận ra là mình đã được hạnh phúc dường bao khi được tha thứ và thoát khỏi án chết đời đời nhờ Lòng Thương Xót của Thiên Chúa?

Một chuyên gia trong các vụ trọng án cho biết: khi tuyên án tử hình thì kẻ tử tội lúc ấy chưa thấy sợ hãi, có chăng chỉ là chút cảm xúc. Nhưng trước ngày thi hành án tử, kẻ tử tội vô cùng bấn loạn và sợ hãi, bởi vì lúc ấy anh ta biết là cái chết đã gần kề mà không thể thoát được. Kẻ lạnh lùng ghê gớm lắm cũng phải toát mồ hôi trước cái chết mà mình sẽ phải lãnh nhận.
Do vậy, chỉ khi nào chúng ta nhận thức được rằng án tử bởi tội lỗi sẽ làm cho mình chết đời đời, mà bây giờ lại được tha bổng, thì lúc bấy giờ ta mới cảm nếm được cái hương vị hạnh phúc ngất ngây của sự tha thứ.
Năm Thánh Lòng Thương Xót quả là một năm hồng ân tuyệt vời, năm mà con người có thể sà vào lòng thương xót của Thiên Chúa để lãnh nhận tình yêu thương tha thứ, để được ra đi thanh thản như Chúa đã nói với người phụ nữ tội lỗi. Hãy quay về và giao hòa với Thiên Chúa để làm mới lại cuộc đời.
Trở về với Thiên Chúa để nhận ra con người thật của mình, để rồi không còn buông thả theo những đam mê trần tục tầm thường. Và một khi đã được sống trong lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa ta cũng phải biết đem Lòng Thương Xót nhân từ của Người đến cho hàng xóm láng giềng chung quanh ta, cho những ai đang cần đến Lòng Thương Xót.

Đã đăng trên:
http://tgpsaigon.net/baiviet-tintuc/20160312/34134

Thứ Ba, 9 tháng 2, 2016

NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN ẨM THỰC


Người sính chữ thường dùng từ “ẩm thực” (Hán-Việt) để chỉ việc ăn uống cho đỡ vẻ “phàm phu tục tử”. Ăn và uống có mối liên hệ mật thiết với nhau. Người ta có thể dùng một thúc uống nào đó khi ăn và khi uống (nhất là những thức uống có chất men) nhiều lúc cũng phải kèm theo ăn. Tuy vậy không phải hễ cứ ăn là phải uống mà không phải lúc nào uống cũng phải kèm theo ăn.

Ngày xưa, người Việt ta đa phần là nông dân sống nhờ vào những sản vật có từ đất nên luôn phải đối mặt với cái đói triền miên. Thức ăn chủ yếu chỉ có cơm với rau, con tôm con tép, con cua con cá thu lượm được ngoài đồng cùng với mắm muối tương cà hầu như nhà nào cũng muối sẵn. Bữa cơm những năm đói kém, mất mùa còn phải độn thêm ngô, khoai, sắn. Mâm cao cỗ đầy, rượu nồng thịt béo chỉ có trong những ngày giỗ, ngày tết hay trong các cỗ tiệc của những kẻ giàu sang quyền quý.

Đồ uống thường không được dùng kèm trong các bữa cơm của người Việt xưa. Có chăng chỉ là bát nước rau luộc vắt chanh, hoặc khá hơn thì là canh rau, canh cá, canh thịt… Có người nghèo bữa cơm chỉ là bát cơm trắng ăn với nước tương, dưa muối. Thế là qua bữa, nếu khát chỉ cần bước ra đầu hè làm một gáo nước mưa đựng sẵn trong lu.

Trong bữa cơm chiều của một số gia đình tương đối khá giả, người cao tuổi trong nhà như ông hay ông bố có thể uống thêm ly rượu trắng hoặc chén rượu thuốc để cho “khí huyết lưu thông, giãn gân cốt” sau một ngày làm lụng vất vả. Rượu được coi như là thứ thuốc bổ dành cho người cao tuổi, lao động chính trong nhà hoặc khi có khách.

“Cỗ không có rượu, như kiệu không có cụ”. Trong những dịp giỗ chạp, cưới xin, ma chay, lễ tết hoặc trong dịp đình đám trong làng, người ta thường uống rượu để hỗ trợ cho bữa ăn thêm thi vị. Nhờ uống chút ít mà người ta có thể tạo được một bầu khí vui vẻ, cởi mở và thân mật. Ngoài rượu không hề có những loại đồ uống khác dành cho đàn bà và trẻ em hay những người không biết uống rượu trong các bữa cỗ ấy.

Việc uống rượu của người xưa là cả một nghệ thuật. Cạn với nhau một chén rượu là để tăng thêm chất men trong câu chuyện của những người tri kỷ. Nhấp một chút men say là để tăng thêm thi hứng cho những lúc thi ca xướng, họa. Cụng với nhau một ly để mừng vui cho ngày gặp mặt hoặc là lời chúc trước lúc đi xa. Đó là một dạng sinh hoạt văn hoá ẩm thực đã có từ nghìn xưa.

Thế nhưng hiện nay, nhiều người đã và đang làm biến tướng đi tính văn hoá vốn có của nó. Ẩm thực đã trở thành “ăn nhậu” hay gọi một cách đơn giản và bình dân là “nhậu”. Ở nhiều nơi, từ nông thôn đến thành thị bất kể giàu sang nghèo khó. Hễ có việc gì làm ăn hay gặp gỡ, hội họp là phải có nhậu kèm theo. Người ta thi nhau, ép nhau uống bia, rượu. Không uống là không chân tình, không thật lòng. Uống cho "tới bến" cho đến say tràn cung mây mới thôi.

Họ thản nhiên ăn nhậu dẫu biết rằng đó là một sự tốn kém cho ngân quĩ  vốn dĩ đã eo hẹp của gia đình trong cái thời buổi khó khăn, gạo châu củi quế thời kinh tế thị trường. Họ không cần biết số tiền phải trả cho những lon bia mà họ vừa uống vừa đổ một cách thừa mứa trong cơn ngà ngà say có thể nuôi sống cả một gia đình hàng tuần. Họ vô tư không biết rằng có hàng trăm người nghèo đang cần sự giúp đỡ ...

Nhưng đâu phải chỉ là vấn đề tiền bạc. Ở những độ nhậu lắm bia nhiều rượu hẳn những người có chút văn hoá rất lấy làm khó chịu khi nghe những lời tâng bốc nhau, gài nhau uống đại loại như: “nam vô tửu như kỳ vô phong”, "không say không về", hoặc quyết liệt hơn: "chú không uống hết ly này là không tôn trọng anh", "bác không cạn ly là không hết lòng với anh em", … Vậy là việc “tôn trọng, hết lòng” với nhau giờ đây đã bị biến thái để được đo bằng ''tửu lượng'', của anh, của chị nhiều hay ít.

Thế rồi, “tửu nhập ngôn xuất”. Những thứ “rượu vào lời ra” trong các độ nhậu thường biến hóa muôn mầu, muôn vẻ. Có anh mượn chút hơi men để có đủ can đảm bày tỏ chính kiến của mình nhưng cũng có kẻ mượn hơi men để khích bác, đâm bị thóc thọc bị gạo gây mầm mống chia rẽ bất hòa trong cộng đồng, đoàn thể.


Có những người bình thường tính tình dễ dãi, hiền lành như cục đất. Nhưng khi chén chú chén anh vào lại trở nên cố chấp, lớn tiếng khăng khăng bảo vệ ý kiến của mình, quyết tâm ăn thua đủ với anh em. Lại có kẻ khi say hay chửi xéo người này người nọ, đôi khi chửi cả bề trên và những người họ hàng thân thích, khiến cho tình nghĩa ruột thịt cũng như lối xóm nhiều lúc như muốn đứt đoạn. Đến khi tỉnh rượu mới hối lỗi thề thốt quyết tâm bỏ rượu nhưng rồi lại chứng nào tật ấy.

Thế nên cụ Tản Đà mới có câu:

Say sưa nghĩ cũng hư đời,
Hư thời hư vậy, say thời cứ say.

Hay như cụ Nguyễn Khuyến cũng thú nhận :

Những lúc say sưa cũng muốn chừa,
Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa.
Hay ưa đến nỗi không chừa được.
Chừa được mà ông cũng chẳng chừa.

Những ngày đầu Xuân, chúng ta thường thăm viếng, chúc Tết lẫn nhau. Đương nhiên gặp nhau phải có ăn uống vì ngày thường “khách đến nhà không trà thì rượu” huống chi là ngày Tết với rượu thịt ê hề, lòng xuân phơi phới. Tuy nhiên, như các học giả thời Trung cổ thường nói: “virtus in medio stat” (nhân đức bao giờ cũng phải ở vào cái thế trung dung), phàm cái gì thái quá thì cũng bất cập.

Hãy tiết độ khi vui Xuân vì ăn nhiều quá sẽ sinh ra bội thực, rồi từ chỗ bội thực lại sinh ra bệnh nọ tật kia. Còn uống nhiều quá thì sinh ra “say xỉn quậy tới bến” như người ta thường nói “tửu nhập tâm như hổ nhập lâm” hoặc “tửu nhập tâm như cẩu cuồng tọa thị”!
Với người Công giáo chúng ta, ngày mùng Ba Tết Bính Thân năm nay lại trùng vào ngày thứ tư Lễ Tro, ngày bắt đầu mùa Chay Thánh theo niên lịch phụng vụ. Nhiều người có cảm giác tiếc nuối vì không được hưởng Xuân trọn vẹn dù Hội Đồng Giám mục Việt Nam cho phép dời việc ăn chay kiêng thịt vào thứ Sáu 12 Tết.
Mục đích truyền thống của mùa Chay là việc chuẩn bị của các tín hữu qua việc chay tịnh, sám hối, ăn năn tội lỗi, cầu nguyện và thực hành bác ái từ thiện.
Trong Thông Điệp Mùa Chay 2016 mới đây, Đức Thánh Cha Phanxicô kêu gọi: “Mùa Chay trong Năm Thánh này là thời gian thuận tiện để ta vượt thắng sự tha hóa hiện sinh của ta bằng cách lắng nghe lời Thiên Chúa và thực hành các việc thương người. …Các việc thương người về phần xác và phần hồn không bao giờ nên bị tách biệt với nhau.”
Thư Mục vụ Mùa Chay – Phục Sinh của Đức TGM Phaolô Bùi Văn Đọc cũng mời gọi Mùa Chay năm nay phải là “Mùa Chay Thánh Thiện” vì “Thiên Chúa giàu lòng thương xót” chính là “Đấng Thánh, là nguồn mọi sự thánh thiện”. Muốn là Mùa Chay thánh thiện, phải là Mùa Chay có nhiều hy sinh và hãm mình trong cuộc sống hằng ngày.

Xin Thiên Chúa là Cha Lòng Thương Xót giúp chúng ta biết hy sinh và hãm mình trong việc ẩm thực. Uống bớt đi một vài lon bia, chai rượu; ăn ít đi những chén thịt đầy… để chia sẻ bớt cho người nghèo, cho kẻ thiếu thốn. Hãy mở lòng thương xót để mùa Xuân yêu thương hôm nay sẽ dệt nên mùa Xuân hạnh phúc mai sau trên Thiên đàng trường Xuân bất diệt.

Xuân Bính Thân 2016


Thứ Bảy, 6 tháng 2, 2016

TẾT, MÙA CHAY VÀ CHAY TỊNH


Vạn vật luân chuyển theo tứ thời bát tiết Xuân, Hạ, Thu, Đông. Niên lịch phụng vụ của Giáo hội Công Giáo cũng theo chu kỳ khép kín. Mùa Vọng, mùa Giáng Sinh đã qua đi, mùa Thường niên tiếp nối, chúng ta chuẩn bị bước vào mùa Chay Thánh với thứ Tư Lễ Tro.

Theo truyền thống của người Việt, mùa Xuân bắt đầu từ ba ngày Tết. Tết là ngày lễ lớn nhất trong năm. Trong ba ngày Tết, dù giàu hay nghèo, người ta đều tạm ngưng mọi công việc để vui chơi, thăm viếng lẫn nhau. Vì thế, trong tháng Chạp, nhà nhà đều đã chuẩn bị thức ăn cho ngày Tết, không chỉ riêng cho gia đình mà còn phải nhiều hơn để tiếp đãi khách.

Ngày Tết, đi đến nhà nào cũng được mời ăn, do đó chúng ta hay nói là “ăn Tết” và khi gặp nhau người ta hay hỏi: năm nay ăn Tết lớn không? Có những món ăn mà chỉ ngày Tết mới dùng tới (ngày thường trong năm ít khi ăn) như là bánh chưng, bánh tét, dưa món, thịt đông, củ kiệu, củ hành, v.v.

Nực cười thay! Nêu không, pháo không, vôi bột cũng không, mà tết.
Thôi cũng được! Rượu có, nem có, bánh chưng đều có, thừa xuân.
                Trần Tế Xương (1870-1907)

Bốn nghìn lần: xuân hạ thu đông vạn vật loanh quanh vòng lẩn quẩn.
Ba ngày tết: xôi dê rượu thịt muôn dân hì hục chén no nê.
               Khái Hưng Trần Khánh Dư (1896-1947)

Nói chung người Việt ta ăn Tết rất “hoành tráng”, rượu thịt ê hề, mọi thứ đầy đủ thậm chí dư thừa mới gọi là ăn Tết! Nhưng ngày nay, khi đời sống vật chất con người được nâng cao, đã xuất hiện nhiều người ăn chay (ngoài giới tu hành). Dù có chung chữ “ăn” nhưng ăn Tết và ăn chay lại mang ý nghĩa và nét đẹp riêng. Ăn Tết mang niềm vui thỏa mãn cuộc sống hôm nay, còn ăn chay lại mang ý nghĩa tiết độ để hướng đến hạnh phúc mai sau.

Theo từ điển, ăn chay (trai, ăn lạt hay chủ nghĩa ăn chay) là một chế độ ăn uống chỉ gồm những thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật, có hoặc không ăn những sản phẩm từ sữa, trứng hoặc mật ong, hoàn toàn không sử dụng các loại thịt (thịt đỏ, thịt gia cầm và hải sản) hoặc kiêng ăn các thực phẩm có được từ quá trình giết mổ.

Theo Phật giáo, ăn chay là không ăn tất cả các sản phẩm từ động vật cũng như một số thực vật trong chi hành (có mùi thơm đặc trưng như hành, hẹ, tỏi, nén và kiệu gọi chung là ngũ vị tân).

Đối với người Công giáo, ăn chay là không ăn hoặc ăn uống ít đi, đạm bạc hơn bình thường. Tránh việc ăn vặt trong ngày chay và nếu được chỉ nên ăn một bữa no, còn những bữa khác chỉ nên ăn chút ít để bụng còn đói.

Quan trọng hơn là cảm nghiệm được tính cách bấp bênh của sức lực con người. Ý thức mình lệ thuộc Thiên Chúa, lương thực hàng ngày do Thiên Chúa ban với sự cộng tác của con người chứ không phải “bàn tay ta làm nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành cơm”!

Chay tịnh trong mùa Chay bao gồm "ăn chay" và "kiêng thịt". Chay tịnh (cùng với việc cầu nguyện và bố thí) là một trong ba hành vi được khuyên làm để biểu lộ lòng ăn năn, sám hối. Thực hành việc chay tịnh là bắt chước Chúa Giêsu “ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày” (Mt 4, 2) và cụ thể hơn: “Trong những ngày ấy, Người không ăn gì cả” (Lc 4, 2).

Năm nay dù thứ Tư Lễ Tro trùng với ngày mồng 3 Tết Bính Thân, nhưng tất cả các giáo phận tại Việt Nam vẫn cử hành Lễ Tro vào ngày thứ Tư theo lịch chung của Giáo Hội hoàn vũ, và chuyển việc ăn chay kiêng thịt vào thứ Sáu 12 Tết. (Biên bản hội nghị thường niên kỳ II của Hội Đồng Giám mục Việt Nam ngày 18/9/2015)

Sự trùng hợp này cũng cho ta nhiều điều đáng suy gẫm. Chúng ta thường chúc tuổi nhau vào những ngày đầu năm. Thêm tuổi là bớt đi thời gian sống, đó là quy luật vô thường bất biến của vạn vật. Hoa nở rồi tàn, Xuân đến rồi đi… Chẳng có gì bền vững với thời gian. Chẳng có gì là vĩnh cửu mà chỉ là phù vân mong manh sương khói.

Khi cúi đầu nhận lãnh những hạt tro, ta không chỉ biểu lộ hành vi sám hối, nhưng còn là dịp để nhìn lại thân phận con người được tạo tác từ tro bụi và sẽ trở về với bụi tro. Một thân phận mỏng giòn, mong manh sớm nở chiều tàn:

Như cỏ đồng trổi mọc ban mai,
nở hoa vươn mạnh sớm ngày,
chiều về ủ rũ tàn phai chẳng còn. (Tv 90)

Dù con người là loài thụ tạo cao nhất được Thiên Chúa sáng tạo theo hình ảnh Người, nhưng vẫn là những thụ tạo có giới hạn, là những tội nhân cần sám hối và hoán cải. Lời Chúa trong ngày đầu mùa Chay kêu gọi con người hãy hoán cải và tin vào Tin Mừng.

Lời mời gọi hoán cải trong Năm Thánh Lòng Thương Xót chính là lời khích lệ hãy làm như đứa con trong dụ ngôn người cha nhân hậu: trở về trong vòng tay của Người Cha đầy Lòng Thương Xót, thống hối và tín thác nơi Người.
Đức Thánh Cha Phanxicô trong bài giảng chiều thứ Tư lễ Tro 18/02/2015 đã nhấn mạnh: Chúa không ngừng xót thương và tha thứ cho chúng ta, chúng ta cần được Chúa tha thứ biết bao. Người kêu gọi chúng ta trở về với Người với một quả tim tinh khiết, thanh tẩy bằng nước mắt, để được thông phần niềm vui với Người.

Thánh Phaolô giải thích làm sao để đáp lại lời kêu gọi làm hoà với Thiên Chúa. Giải hoà không phải chỉ là nỗ lực của con người. Việc chúng ta giải hòa với Thiên Chúa và với anh em mình chỉ có thể thực hiện được nhờ Lòng Thương Xót và Tình Yêu của Chúa Cha, Đấng đã không tiếc gì Người Con duy nhất của mình...

“Mồng một Tết cha, mồng hai Tết mẹ, mồng ba Tết thầy”. Mùa Xuân là mùa của niềm vui và tình thương yêu. Tình yêu thương đó được biểu lộ qua tình yêu bản thân cùng những người ruột thịt rồi mở rộng ra cho tha nhân (Tết Thầy). Tình yêu thương đó cũng được biểu lộ một cách chân thành và rõ nét qua việc thăm viếng nhau, chúc Tết cho nhau, tặng quà cho nhau và nhất là biết yêu thương, chia sẻ cho người nghèo khổ.

Mục đích truyền thống của mùa Chay là việc chuẩn bị của các tín hữu qua việc chay tịnh, sám hối, ăn năn tội lỗi, cầu nguyện và thực hành bác ái từ thiện. Bác ái trước hết là “Phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” (Eph 4,32). Thứ đến không phải ăn chay là tiết giảm chi tiêu rồi cất tiền vào tủ, nhưng là chia sẻ cho người nghèo.

Giáo hội Công giáo là Giáo hội của người nghèo, điều này đã được Đức Thánh Cha Phanxicô khẳng định:  “Nơi những người nghèo và cùng khổ, chúng ta nhìn thấy khuôn mặt Đức Kitô; khi yêu thương và giúp đỡ người nghèo, chúng ta yêu thương và phục vụ chính Đức Kitô.” (Sứ điệp mùa Chay 2014).

Trong Thông Điệp Mùa Chay 2016 mới đây, ngài cũng kêu gọi: “Mùa Chay trong Năm Thánh này là thời gian thuận tiện để ta vượt thắng sự tha hóa hiện sinh của ta bằng cách lắng nghe lời Thiên Chúa và thực hành các việc thương người. Trong các việc thương người về phần xác, ta đụng tới da thịt của Chúa Kitô nơi các anh chị em của ta, những người cần được ăn, được mặc, được trú ngụ, thăm viếng; trong các việc thương người về phần hồn: khuyên bảo, dạy dỗ, tha thứ, khuyên răn và cầu nguyện, ta đụng tới tính tội lệ của ta một cách trực tiếp hơn. Các việc thương người về phần xác và phần hồn không bao giờ nên bị tách biệt với nhau.”

Việc từ thiện vẫn được hiểu thông thường là cho đi, là chia sẻ cho kẻ thiếu thốn. Nhưng nếu hiểu xâu xa hơn theo cái nhìn đạo đức Kitô giáo, thì đó là trả lại cho người nghèo những quyền cơ bản về cái ăn, cái mặc và nơi ở xứng đáng mà lẽ ra họ được hưởng. Bao lâu thế giới còn có người nghèo đói là ta còn mắc nợ họ. Làm việc bác ái từ thiện là một cách thức trả nợ nhân sinh ngoài việc tích công góp đức.

Mùa Xuân lại về với những hạt nắng ấm áp, xua tan chút se lạnh của buổi Đông tàn. Gió Xuân lay nhẹ những cành mai, cành đào rực thắm. Chim líu lo hót, bướm lượn cánh vờn hoa, làm cho lòng người tạm quên đi những lắng lo, muộn phiền thường ngày.

Hãy tận hưởng hương vị của những ngày Tết và bước vào mùa Chay như trở về với mùa Xuân của tâm hồn. Canh tân đời sống thiêng liêng, ra sức làm những việc cần thiết để được giao hòa và hiệp thông với Chúa.

Năm nào ta cũng đón Tết, ăn Tết, vui Tết nhưng dường như tâm hồn của chúng ta vẫn còn Đông giá, vẫn còn khô khan, chưa đâm chồi nẩy lộc. Hãy để cho hơi thở đầy lòng thương xót của Thiên Chúa là Chúa Xuân vĩnh cửu sưởi ấm tâm hồn mình qua bí tích Giao hoà, tha thứ và làm hoà với nhau.

Hãy để cho lòng thương xót dẫn đưa chúng ta đến với những con người nghèo khổ, bệnh tật, những người bị gạt ra bên lề xã hội và những ai đang đau khổ về tinh thần cũng như thể xác. Như thế, mùa Xuân yêu thương hôm nay sẽ dệt nên mùa Xuân hạnh phúc mai sau trên Thiên đàng trường Xuân bất diệt.

Đã đăng trên:

http://gdpttthathocmon.org/?p=6410#more-6410