Thứ Năm, 27 tháng 6, 2019

TRÁI TIM TÌNH YÊU

Tình yêu là một loạt các cảm xúc, trạng thái tâm lý, và thái độ khác nhau dao động từ tình cảm cá nhân đến niềm vui sướng. Nó còn là một đức tính đại diện cho lòng tốt của con người, là lòng nhân ái, là sự thông cảm sẻ chia đối với người khác như thánh Thomas Aquinas từng viết "tình yêu tạo ra điều tốt lành cho người khác".

Tôn giáo nào cũng dậy yêu thương. Giáo lý nhà Phật coi tất cả những gì trên đời này đều là phù du, chỉ có yêu thương lẫn nhau mới là thứ tồn tại vĩnh viễn, còn lại cuối cùng. Luật Môsê trong Cựu Ước cũng dạy: "Phải yêu thương tha nhân như chính mình". Khi Chúa Giêsu xuống thế làm người, Ngài đã giảng dạy yêu thương và hơn thế nữa đã thực hiện tình yêu thương một cách trọn vẹn.

Tình yêu có nhiều cung bậc sâu thẳm trong trái tim con người, nhưng thường thì khi trao gởi tình yêu, người ta mong muốn được đáp lại. Nhưng tình yêu không hẳn lúc nào cũng công bằng như thế, có người trao đi và không được đáp lại, có người trao đi và chẳng cần được đáp lại.
Trái tim là biểu hiện, là trung tâm điểm của tình yêu. "Thiên Chúa là tình yêu", nên khi nói tới tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta liên tưởng ngay tới Trái Tim Chúa Giêsu. Tất cả mọi người, mọi thành phần đều có một chỗ nương tựa trong con tim yêu thương của Ngài. Tình yêu ấy đã trở nên vẹn toàn, trở nên cụ thể nhất khi “một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra.” (Ga 19,34).

Yêu trọn vẹn khiến Thánh Tâm nhận lãnh
Ngọn giáo đâm cho máu chảy tỏ tường
Chúng con nhìn mà kính lạy vết thương
Như bằng chứng của mối tình khôn tả.
(Thánh Thi Kinh Sách lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu)         

Những giọt máu cuối cùng đó đã minh chứng tình yêu cao quí của Chúa dành cho chúng ta: yêu cách quảng đại, yêu trọn vẹn, cho đi tất cả, hiến dâng tất cả, không đòi hỏi cũng không giữ lại một chút gì cho bản thân Ngài. Trái tim bị đâm thâu của Chúa Giêsu là bằng chứng tuyệt vời về tình yêu tuyệt mỹ của Thiên Chúa. “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15,13).

Trong thực tế cuộc sống hôm nay, vẫn còn rất nhiều người sống thiếu yêu thương. Hằng ngày, chúng ta chứng kiến biết bao cảnh bạo lực xảy ra trong gia đình, nơi học đường, ngoài xã hội. Những cảnh vợ chồng cãi vã, ăn thua đủ, thậm chí giết nhau trước ánh mắt kinh hoàng của con cái.

Những video clip bạo lực học đường được chính các em học sinh ghi lại rồi tung lên mạng. Những cảnh kéo bè tụ nhóm thanh toán nhau xảy ra trên đường phố, nơi chợ búa, quán xá... mà nguyên nhân chỉ là những việc nhỏ nhặt xảy ra thường ngày.

Rồi những cảnh đói nghèo, bệnh tật không những ở những nơi vùng sâu, vùng xa mà còn ngay ở trong lòng những thành phố lớn. Những bậc tu trì chân chất, những cựu binh tàn phế, những dân đen thấp cổ bé họng bị đẩy ra khỏi nơi mình đang sinh sống để nhường chỗ cho những dự án vì lợi ích nhóm.

Người ta vẫn biết, vẫn thấy, vẫn nghe những tiếng kêu oan của họ. Nhưng người ta vẫn cứ làm ngơ không dám lên tiếng, hoặc vì bất lực, hoặc vì sợ liên lụy đến sự an toàn của bản thân. Cứ lẳng lặng chứng kiến những cảnh áp bức, cứ tìm cách thoái thác khi được mời gọi trợ giúp cho những hoàn cảnh đói nghèo, bệnh tật.

Người Ki-tô hữu không chỉ được mời gọi chiêm ngắm, sùng kính mà còn phải trở nên chứng nhân tình yêu của Thánh Tâm Chúa trong thế giới hôm nay. Chính Đức Giêsu đã dạy: Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 15,12).

Thánh Gioan Tông đồ cũng nhắc nhở chúng ta: “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,7-8).

Là người môn đệ của Thánh Tâm Chúa Giêsu, chúng ta không thể chấp nhận thái độ vô cảm, dửng dưng. Cũng không chấp nhận chỉ nói về tình thương nhưng không sống yêu thương hoặc coi thường khinh bỉ những người tội lỗi.

Vì vậy, chúng ta hãy xin Thánh Tâm Chúa thứ tha và xin Ngài ban cho chúng ta một quả tim mới, một quả tim biết yêu thương, biết thổn thức, biết rung động, biết đập với nhịp đập của Thánh Tâm Chúa để đền đáp phần nào tình yêu vô tận mà Chúa đã dành cho chúng ta.

Chúng ta hãy lấy lòng nhân từ cảm hóa những người tội lỗi giúp họ trở về đường ngay, nẻo chính. Hãy tha thứ, làm ơn và cầu nguyện cho kẻ làm hại chúng ta. Hãy thăm viếng những người đang sống trong cảnh túng nghèo quẫn bách, bệnh tật, tù đày, già cả, cô đơn, khuyết tật … để cứu chữa, hoặc làm giảm bớt những cơn đau của họ.

Hãy hạn chế sử dụng và giảm bớt chi tiêu đối với những gì không cần thiết để giúp đỡ người nghèo hoặc các công trình tôn giáo và xã hội, tham gia những việc có ích cho cộng đồng. (x. Thư công bố Năm Thánh Tôn vinh các Thánh Tử Đạo Việt Nam của HĐGM VN ngày 1/5/2018)

Mừng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, chúng ta cùng cầu xin Chúa ban cho chúng ta có được một chút Trái Tim của Ngài. Trái tim không bao giờ cạn kiệt tình yêu, một tình yêu hy sinh tự hiến không đắn đo suy tính hơn thiệt với tha nhân.

Một trái tim không ngủ yên, biết trăn trở quan tâm đến những vất vả, khó khăn, mệt nhọc, gian khổ... của những người chung quanh. Luôn tha thiết mong ước làm sao để những trái tim khác cũng nhận được hạnh phúc trong tình yêu.

Xin Chúa cho trái tim chúng ta không phải là “trái tim mùa đông” nhưng là một con tim nồng ấm tình người, cũng không phải là “trái tim ngục tù” nhưng là con tim quảng đại với anh chị em. 

Một trái tim đong đầy tình yêu sẽ làm cho con người chúng ta bung ra khỏi những cái vỏ ích kỷ, những cái khung nhỏ nhen chật hẹp để sống một trời mới đất mới với không gian lồng lộng và thời gian bao la bất tận. Trái tim đó làm cho chúng ta nhận ra mọi người là con cùng một Cha, anh em cùng một nhà trong tình yêu bao la của Thánh Tâm Chúa.



Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2019

THÁNG HOA DÂNG MẸ


Tháng Năm với những tiếng ve kêu râm ran trên tán lá vườn nhà sau cơn mưa rào bất chợt. Những cây phượng vĩ còn sót lại trong sân trường cũng bắt đầu nở hoa … báo hiệu mùa hè lại đến. Người Công giáo Việt Nam cùng Giáo hội hoàn vũ, lấy tháng Năm hằng năm dành riêng cho việc kính Đức Mẹ Maria, mẹ Chúa thiên đình với tên gọi rất dân dã là Tháng Hoa.
Tháng Hoa là dịp để giáo dân bày tỏ lòng sùng kính Mẹ Maria – Mẹ Thiên Chúa. “Per Mariam ad Jesum: qua Mẹ Maria đến với Chúa Giêsu”. Các giáo xứ tưng bừng, rộn rã bước vào mùa dâng hoa kính Đức Mẹ với nhiều thể loại phong phú như rước kiệu, dâng hoa... tuỳ vào tập quán, điều kiện của mỗi địa phương.
“Giáo dân bao xiết mừng
Tiếng ca hòa vang lừng
Cùng nhau hái nhiều đóa hoa
Đượm lên tiến dâng Đức bà.”

Lời bài hát  đã được in sâu trong kí ức tuổi thơ lại vang lên với những cảm xúc về những loài hoa, sắc hoa, lời ca, điệu múa dâng hoa… Hoa với muôn sắc xinh tươi, hương thơm ngào ngạt để tô thắm vũ trụ đã được Thiên Chúa tạo tác. Hoa đã trở thành bạn thân thiết với con người: khi vui người ta tặng hoa để chúc mừng nhau, khi buồn người ta cũng trao gởi lẵng hoa như trao gởi tấm lòng đồng cảm thân thương.
Hoa cũng có những tiếng nói riêng như hoa Hướng dương biểu trưng cho mặt trời toả sáng, sưởi ấm lòng người. Hoa Mười giờ gởi ta một tình yêu thuỷ chung, son sắt. Hoa Phượng gợi ta nhớ lại những phút giây tuổi học trò vui đùa trên sân trường hồn nhiên, trong sáng. Hoa Lưu ly với lời tha thiết yêu thương “xin đừng quên tôi” . Sắc hoa cũng biểu trưng cho tình cảm, lòng tin của con người như sắc xanh của lòng Cậy, đỏ của lòng Mến, trắng của lòng Trong Sạch, tím của lòng Khiêm Nhường,  vàng của Niềm Tin, Hồng của Tình Yêu…   
“Hoa muôn sắc con dâng trước toà
Màu tươi thắm hương ngát tốt xinh
Hoa muôn sắc con dâng trước toà
Còn thua kém tươi Mẹ Chúa Thiên Đình.”


Nhưng hơn hết  là những bông hoa lòng, những bông hoa Mân Côi. Hoa Mân Côi là sứ điệp của tình yêu, sứ điệp ơn cứu độ và là kinh nguyện Phúc Âm được kết dệt từ mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể, sống cuộc đời dương thế, chịu chết khổ hình, sống lại và lên trời được suy gẫm qua 20 mầu nhiệm: năm sự Vui, năm sự Sáng, năm sự Thương, năm sự Mừng. Mỗi khi cất lên lời kinh: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc… là chúng ta kết thành đóa hoa Mân Côi kính dâng Mẹ.
Trong tháng Hoa, ngoài việc tham dự dâng hoa, rước kiệu, đọc kinh Mân Côi. Chúng ta cùng nhau sốt sắng dâng lên Mẹ, những đóa “hoa lòng” thánh thiện: những gương sáng, những việc lành, những nghĩa cử bác ái với tha nhân trong đời sống thường ngày, những kinh nguyện chung mỗi tối trong gia đình; những bông hoa tin, cậy, mến; những hi sinh, đau khổ, bệnh tật
Như thế, Mẹ Maria không chỉ là “nhịp cầu” dẫn đưa chúng ta trở về với Thiên Chúa mà còn nối kết chúng ta lại với nhau bằng tình yêu đích thực, bằng tình huynh đệ hiệp thông. Từ trời cao, chắc hẳn Mẹ Maria rất vui mừng và cầu bầu cùng Chúa ban muôn ơn lành cho những ai sốt mến thành tâm hướng về Mẹ trong tháng hoa đầy hương sắc.
GĐPTTT CG chúng con xin dâng lên Mẹ những công việc bác ái, những hi sinh thầm lặng, những đóa hoa Mân Côi trong các giờ kinh Đền tạ với tâm tình thơm thảo. Xin Mẹ cầu bầu cùng Chúa cho các đoàn viên chúng con được gắn bó đoàn kết với nhau, có lòng nhiệt thành và đức vâng lời để xứng đáng là những người con của Thánh Tâm Chúa Giêsu – người con yêu dấu của Mẹ.


Nội san Lửa Mến – tháng 05/2019


Thứ Hai, 6 tháng 5, 2019

LỄ LÁ HÔM NAY


Khi thấy Đức Giê-su cỡi trên lưng lừa tiến về thành Giê-ru-sa-lem. Một đám người rất đông cũng lấy áo choàng trải xuống mặt đường, một số khác lại chặt nhành chặt lá mà rải lên lối đi. Dân chúng, người đi trước, kẻ theo sau, reo hò vang dậy: Hoan hô Con vua Đa-vít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời. (Mt 21, 8-9)

Trong tâm lý của quần chúng Do Thái thời đó - tâm lý của người dân nhược tiểu sống dưới ách đô hộ của đế quốc Rôma - Đức Giê-su là vị Vua Giải Phóng Dân Tộc nên khi thấy Người cùng các môn đệ tiến vào Giê-ru-sa-lem, họ nghĩ rằng niềm vui được giải phóng đã gần kề.

Không vui sao được, khi người đang cỡi trên lưng lừa chính là người đã hóa nước thành rượu trong tiệc cưới Ca-nan. Đã làm phép để với một ít bánh và vài con cá đã cho hàng ngàn người ăn no nê. Đã làm cho kẻ mù được thấy, kẻ què được đi … và cũng chính là người đã làm cho Lazarô, một kẻ đã chết ba ngày được sống lại. Với “72 phép thần thông biến hóa” đáng nể như vậy, chắc chắn binh hùng tướng mạnh của người La Mã sẽ phải cúi đầu khuất phục!

Chắc hẳn những tiếng reo hò “Hoan hô ! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa !” trong ngày Chúa nhật Lễ Lá hôm đó đong đầy âm sắc của niềm vui, của hy vọng, của hoà bình. Những tiếng hoan hô đó phải lớn lắm - lớn hết sức mình có thể - và kèm theo đó là sự tham gia của cả thể hình với những khuôn mặt đầy phấn khích, những cánh tay vẫy cao những cành lá.

Nhưng cũng chính đám đông ấy trong buổi sáng thứ Sáu Tuần Thánh lại vang dậy tiếng hò hét mang đầy âm sắc của dữ dằn, của khát máu, của sự loại trừ: “Đóng đinh nó vào thập giá ! Đóng đinh nó vào thập giá !”. Những tiếng la hét ấy đã khiến Philatô phải băn khoăn: “Thế ông ấy đã làm điều gì gian ác ?”. Câu trả lời của đám đông vẫn là: “Đóng đinh nó vào thập giá !” và càng gào lên ghê gớm hơn khi Philatô tự cho là mình vô can và phủi tay : “Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi !”. (Mt 27, 22-25)


Theo nhà tâm lý học xã hội Gustave Le Bon: đám đông thường bị điều khiển bởi sự vô thức của mỗi cá nhân, hành động tùy theo những kích thích ngẫu nhiên. Họ đặc biệt dễ bị tác động, nội tâm của họ xuất hiện một sự thúc dục phải biến nhanh ý tưởng thành hành động.

Hiệu ứng đám đông còn có thể được hiểu là những suy nghĩ hoặc hành vi của con người thường xuyên chịu tác động của những người khác. Đây là một phản ứng tâm lý rất tự nhiên, không hề xấu. Thế nhưng, khi hiệu ứng này có thể giết chết một con người, đó không còn là chuyện nhỏ.

Những kích thích và tác động ở đây chính là niềm mong ước của dân Do Thái muốn được giải phóng khỏi ách kềm kẹp của đế quốc Rôma và sự “ganh ăn ghét ở” của giới lãnh đạo Do Thái thời đó. Họ sợ đám đông rời bỏ mình đi theo Đức Giê-su và việc đó ảnh hưởng đến những đặc lợi, đặc quyền mà từ trước đến nay họ vẫn được hưởng vì vậy “các thượng tế và kỳ mục trong dân nhóm họp tại dinh của vị thượng tế tên là Cai-pha, và cùng nhau quyết định dùng mưu bắt Đức Giê-su và giết đi.” (Mt 26, 3-4)

Ngày Chúa nhật Lễ Lá hôm nay mang đến cho chúng ta bài học bổ ích và mang tính rất thời sự dù sự việc đã xảy ra cách đây hơn 2000 năm. Con người hiện nay sống trong thời đại công nghệ “4G”, có thể nói đang có một thế hệ trưởng thành từ mạng xã hội, một thế hệ “check in, like, comment …” mỗi lúc và mọi nơi. Những thói quen từ mạng xã hội có thể là niềm vui của người này, nhưng đôi khi lại là sự phiền phức của kẻ khác.

Nó tác động đến cuộc sống của con người; thậm chí làm thay đổi nếp sống, cách nghĩ của nhiều người. Nó giúp những người ở xa nhau nửa vòng trái đất cũng trở nên gần gũi nhờ tương tác đều đặn hàng ngày. Nhưng đôi khi lại khiến những người ở rất gần trở nên xa cách…. Tất cả là do cách mỗi người sử dụng, cũng như ứng xử với mạng xã hội.

Mạng xã hội có sức mạnh “phù phép” đông đảo người nghe theo, tin theo và làm theo. Mặt khác, có rất nhiều hậu duệ của những “thượng tế và kỳ mục” sở hữu sẵn “máu bài trừ” người khác bằng cách truyền đi những thông điệp mang tính chất kích động và chống lại một ai đó (thường là những người nổi trội hơn mình, … hoặc đơn giản chỉ là ai đó “thấy ghét”!).

Khi những thông điệp mang tính “bêu xấu” được truyền đi một cách có chủ đích, có hệ thống, và chuyên nghiệp thì vấn đề càng trở nên nguy hiểm hơn. Trong khi đó, từng cá nhân trong đám đông thường bị “lu mờ lý trí” hay “mê muội” như bị thôi miên và được dẫn dắt bởi những lời lẽ kích động của những “anh hùng bàn phím”.

Một comment chê bai có thể chưa mang lại nhiều tác động tiêu cực, nhưng khi một đám đông cực đoan cùng “hùa” vào chê bai thì hậu quả thật khó lường. Sự a dua tập thể chính là một con dao vô hình, có thể lấy đi sự tự tin, niềm vui, cướp đi ước mơ, hoài bão, thậm chí sinh mạng con người… Liệu chúng ta có thực sự còn muốn tham gia vào một cuộc chỉ trích, phê phán ai đó nếu biết được rằng một lời nói nhỏ bé của mình có thể khiến họ phải tìm đến cái chết?

Rất nhiều người thú nhận họ lên án, “like”  hay “view” cho một người chỉ vì dư luận xung quanh đang làm thế mà không thực sự tìm hiểu cặn kẽ câu chuyện. Gần đây kênh YouTube mang tên “Khá Bảnh” với hàng loạt video “chém gió, dạy đời" gây sốc với cách hành xử kiểu giang hồ như văng tục, chửi bới, đốt xe, khoe tiền … đã thu hút được sự chú ý của nhiều người, đặc biệt là giới trẻ với hàng triệu lượt xem và bình luận là một ví dụ.  

Hẳn những nhà sáng lập ra Instagram, Twitter hay Facebook… có thể không bao giờ mong muốn sản phẩm của mình sẽ mang lại phiền toái đau thương cho con người, bởi vì những trang mạng xã hội  thật ra chỉ là phương tiện giải trí, gắn kết mọi người. Vì thế, khi chưa tìm hiểu kỹ càng, xin đừng nghe theo những “thượng tế và kỳ mục” thời nay để biến mạng xã hội thành những công cụ mang tính hủy diệt như đám đông Do Thái xưa vội vã “hoan hô” rồi ngay sau đó lại hét to “đả đảo”!  

2019

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2019

TẢN MẠN CUỐI NĂM



Những ngày cuối năm, dường như thời gian trôi nhanh hơn bình thường khi một vòng tuần hoàn của trái đất sắp khép lại. Những hối hả, lo toan của cuộc sống đời thường nhanh chóng lấp đầy quỹ thời gian của mỗi người.

Có người vẫn vất vả ngược xuôi trong cuộc mưu sinh, tối tăm mặt mũi với những nỗi lo cơm áo gạo tiền. Có người tất bật cố gắng hoàn thành những công việc chưa hoàn thành của năm cũ. Nhưng cũng có những người chậm rãi, trầm tư và lặng lẽ bên dòng thời gian ôn lại bao kỷ niệm buồn vui, những thành công hay thất bại.

Buồn vì một năm nữa sắp trôi qua, ta lại già thêm chứ không phải lớn thêm một tuổi như lúc còn trẻ con. Thêm tuổi đời là thêm những vết nhăn của lo toan trên vầng trán và đôi vai cũng dần dà trĩu nặng gánh mưu sinh. Buồn vì những cuộc chia ly tiễn biệt với những người thân quen già trẻ lớn bé. Buồn vì thế thái nhân tình hay những mất mát thua thiệt trong cuộc sống bon chen.

Vui vì những thành quả ta đạt được sau bao nỗ lực cố gắng. Vui vì sự quan tâm giúp đỡ, chia sẻ của biết bao người dành cho ta khi thất bại và vấp ngã để ta có thể tự đứng dậy và tiếp tục bước đi trên chính đôi chân của mình. Vui vì những lúc đau yếu hay chùn chân, ta vẫn còn một chỗ dựa vững chắc là gia đình. Đó không chỉ là nguồn vui mà còn là điều hạnh phúc.

Ta đã đã tiêu phí bao nhiêu thời gian cho những lúc “trà dư tửu hậu”, say sưa với những trò giải trí, sa đà vào mạng xã hội vô bổ? Bao nhiêu điều tiếc nuối, bao nhiêu toan tính chưa thực hiện, bao công việc còn dang dở? Đã bao lần ta mải mê chạy theo “mồi phú quý, bả vinh hoa”? Bao nhiêu người thân yêu, bạn bè đã rời xa - ở lại với ta sau bao sóng gió thăng trầm của cuộc sống?

Thời gian là thứ hữu hạn nhưng nó có thể làm mọi thứ già đi, bạc trắng theo nó. Đời người không biết trải qua bao nhiêu lần cuối năm? Không ai có thể trả lời được cho đến khi nhắm mắt “trở về làm cát bụi”. Người biết nắm bắt thời gian là người có khả năng làm chủ cuộc sống, gặt hái thành công cho chính mình. Thêm một tuổi đời, sức khoẻ có kém hơn trước nhưng bù lại kinh nghiệm sống nhiều hơn.

Ta mới “ngộ” ra rằng có những thứ chúng ta đang có, chúng ta không hề biết quý trọng. Có rất nhiều thứ chúng ta đang có mà chúng ta cảm thấy bình thường thì đó lại đang là niềm khao khát của biết bao người khác. Có rất nhiều thứ ta mải mê kiếm tìm nhưng không bao giờ thỏa mãn. Có những thứ đang có khi mất đi rồi ta không bao giờ tìm lại được.

Một trong số những quà tặng quý giá nhất mà Chúa đã ban tặng cho ta chính là sức khỏe. Cha ông ta cũng đã muốn gửi gắm đến những thế hệ sau bức thông điệp ngắn gọn nhưng súc tích qua câu nói “sức khỏe là vàng”. Dù tinh thần ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe nhưng cũng có lúc nó không thể điều khiển được cơ bắp hay những hệ thống đang vận hành cơ thể của ta. Vì thế phải cân đối giữa công việc, vui chơi, nghỉ ngơi và chăm sóc bản thân.

Cuộc đời không hoàn hảo và ta cũng sẽ chẳng thể nào làm nó hoàn hảo hơn. Thế nên, đôi khi cũng cần nhìn những điều không hoàn hảo đó như một phần tất yếu nên có và cần phải có trong cuộc sống. Như vậy, ta sẽ sống thanh thản và bao dung hơn. Một năm sắp trôi qua, không gian của sai lầm và tiếc nuối lại rộng hơn. Có những lời lẽ không hay đã thốt ra, có những việc không nên cũng đã làm, có những tổn thương ta đã gây ra cho ai đó và có cả những lời tri ân đã bị ta bỏ lỡ.

Một lời cảm ơn, một lời xin lỗi, một lời yêu thương chẳng bao giờ là quá muộn. Hãy nói cảm ơn vì những thành tựu một năm qua vì chắc chắn ta sẽ chẳng thể đạt được nếu chỉ có một mình. Hãy cám ơn những người đã chia sẻ, giúp đỡ ta bằng cách này hay cách khác vì “đối với một tín hữu lòng biết ơn là trung tâm của đức tin: một Kitô hữu không biết cám ơn là một người đã quên đi tiếng nói của Thiên Chúa”. (ĐTC Phanxicô)

Và đừng quên xin lỗi những ai mà mình đã trót làm tổn thương, lời xin lỗi như một lời thú tội để lòng mình nhẹ nhõm hơn.Xin lỗi là lời khó nói nhưng cần thiết, khi thiếu nó, các nứt rạn nhỏ trở thành lớn hơn – cả khi không muốn – cho tới khi trở thành các hố sâu. Không phải vô tình trong lời kinh Lạy Cha Chúa Giêsu đã dậy chúng ta kiểu nói này: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” (Mt 6,12)”. (ĐTC Phanxicô)  

Vâng, xin hãy tha thứ cho người đã vay mượn ta một chút ân tình hay vật chất mà mãi không chịu trả. Những người chỉ cần đến ta khi họ gặp khó khăn. Thậm chí, với cả những kẻ thù ghét, xúc phạm đến ta. Tha thứ không phải chỉ vì lỗi lầm của họ mà là vì việc xóa đi ân oán trong lòng, ta đã từ bỏ được bản năng “tham - sân - si” để sống độ lượng, bác ái và vị tha hơn.

Những ngày cuối năm, tự nhủ lòng mình hãy ăn, uống, ngủ, nghỉ, nói, cười… và sống chậm lại một chút để cảm nhận cuộc sống yên bình. Hãy lắng nghe con tim mình với nhịp đập không bận rộn, không lo toan, không vương vấn. Hãy tạ ơn Chúa vì những gì ta đã có hay đã mất để ta biết yêu thương và quý trọng hơn những gì mình đang có hôm nay.

Đã đăng trên:
http://www.conggiaovietnam.net/index.php?m=home&v=detail&ia=18958

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2018

NHỚ THÁNG HOA ĐỨC BÀ


Người Công giáo Việt Nam vốn có lòng kính mến Đức Mẹ cách đặc biệt. Hầu như xứ đạo nào cũng có hang đá hoặc đài Đức Mẹ trong khuôn viên nhà thờ để mọi người đều có thể “tâm sự nhỏ to” cùng Mẹ. Rồi những chuyến hành hương Đức Mẹ La Vang, Tà Pao, sông Mê Kông, … thậm chí xa xôi như Đức Mẹ Fatima, Lộ Đức (Lourdes), Mễ Du (Medjugorje)… đều thu hút đông đảo tín hữu tham gia; đủ thấy lòng tin của người Công giáo Việt Nam vào Đức Mẹ mãnh liệt đến chừng nào.

Tháng Giêng, ăn Tết ở nhà
Tháng Hai ngắm đứng, tháng Ba ra mùa.
Tháng Tư tập trống, rước hoa……

Bài vè lịch lễ Công giáo được truyền khẩu tại các xứ đạo Công giáo vùng đồng bằng Bắc bộ xưa cho ta thấy việc chuẩn bị cho tháng Năm - tháng Hoa Đức Bà - với nhiều hình thức phong phú. Chúa nhật mỗi tuần các giáo xứ đều tổ chức rước kiệu, múa hát dâng hoa với các vãn hoa mà giai điệu được cải biên từ các làn điệu dân ca và các điệu múa được biên đạo qua các hình thức dân vũ. Một số giáo xứ còn tổ chức thi đua giữa các giáo họ để chọn ra đội hoa múa hát hay nhất dâng hoa vào Chúa nhật cuối tháng được gọi là giã hoa, kết thúc tháng Hoa Đức Mẹ.

Việc tôn kính Đức Mẹ trong tháng hoa thường tập trung vào hai hoạt động chính là rước kiệu Đức Mẹ và Dâng hoa kính Mẹ. Hôm rước kiệu, tượng Đức Mẹ xinh đẹp uy nghi được đặt trên kiệu với muôn sắc hoa khoe mầu rực rỡ. Giáo dân các họ ai nấy đều ăn mặc chỉnh tề, kéo nhau đến địa điểm theo giờ ấn định. Tại đây mọi người sẽ nhập vào đoàn thể của mình tùy theo tuổi tác hay giới tính. Ở độ tuổi thiếu niên thì vào đoàn Nghĩa binh Thánh thể. Các thanh niên thanh nữ thì có hội hát, hội Con Đức Mẹ, hội Liên minh Thánh Tâm. Cao tuổi hơn nữa thì có hội Phạt tạ, hội Dòng ba v.v.

Cuộc rước sẽ xuất phát từ một điểm nào đó trong một giáo họ, vòng quanh làng xóm tiến về nhà thờ. Trên đường đi, ngoài những lúc hát hay đọc kinh, thỉnh thoảng hội kèn Tây lại trỗi lên những bài nhạc thánh ca hùng tráng. Đội trống với những trống lớn, trống con, chũm chọe tạo nên những nhịp trống rộn ràng vui tươi. Đội trắc với những thanh trắc gõ vào nhau rất đều tạo ra những âm thanh quyện vào nhau dòn dã, cùng những cử điệu hình thể nhịp nhàng nghe vui tai lại trông đẹp mắt.

Hình ảnh Mẹ Maria được cung nghinh trên kiệu giữa ngàn hoa nhắc ta nhớ đến lời Giáo hội xưng tụng Mẹ trong Kinh cầu Đức Bà: “Ðức Bà như hoa hường mầu nhiệm vậy”. Vâng, Mẹ đã được Thiên Chúa tuyển chọn, và qua tiếng "Xin Vâng" Mẹ đã trở nên tuyệt mỹ hơn muôn ngàn phụ nữ. Mẹ đã trở nên đóa hoa thơm ngát trước ngai tòa Thiên Chúa, đã trở nên đóa hoa độc nhất vô nhị của thế giới loài người. Khi ví Đức Mẹ là “hoa hường mầu nhiệm”, Giáo hội không chỉ nói đến sự tươi đẹp ở dáng vẻ bên ngoài mà còn nói đến nét đẹp xinh tươi trong tâm hồn vì Mẹ luôn sống trong ơn thánh và luôn làm đẹp lòng Chúa.

Bông hoa tuyệt vời đó được dành riêng để dâng kính Thiên Chúa và cũng chính bông hoa ấy đã làm cho Thiên Chúa hài lòng. Trong Kinh thánh, hình ảnh của Đức Mẹ uy nghi lộng lẫy được ví như: "một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao" (Kh 12,1) đồng thời cũng là một người nữ xinh đẹp duyên dáng số một: "Kìa bà nào xuất hiện như rạng đông, diễm kiều như vầng nguyệt, lộng lẫy tựa thái dương, oai hùng như đạo binh chỉnh tề hàng ngũ ?" (Dc 6,10).

Khi đoàn rước vừa về đến nhà thờ thì tất cả các chuông lớn chuông nhỏ đều đổ liên hồi chào mừng. Tại đây bàn thờ kính Đức Mẹ đã được trang hoàng bằng đủ loại hoa đầy màu sắc. Kiệu Đức Mẹ được đặt sát gian cung thánh hướng về phía giáo dân. Buổi dâng hoa do các thiếu nhi đảm trách diễn ra liền sau đó thu hút sự chú ý theo dõi của mọi người. Không ai không khỏi bồi hồi, xúc động khi nhìn những em thiếu nhi trong trang phục áo dài cổ truyền như những bông hoa sống động tinh tuyền múa ca nhịp nhàng tiến hoa lên Đức Mẹ. 


Nghiên cứu lại vãn Hoa Đức Mẹ tháng năm xưa, ta thấy bố cục của buổi dâng hoa rất rõ ràng: Khởi đầu là phần khai hoa, rồi đến ngũ bái (Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần, Đức Mẹ và chư thánh). Tiếp theo là phần dâng hoa được chia thành: ngợi ca các nhân đức Đức Mẹ, năm sắc hoa tượng trưng cho 5 nhân đức của Đức Mẹ (Hoa trắng chỉ sự trong sạch của tâm hồn, hoa tím chỉ sự tuân phục thánh ý Chúa, hoa vàng chỉ đức mến vẹn toàn, hoa xanh chỉ sự trọn lành thánh thiện, hoa đỏ chỉ sự hy sinh hãm mình), bảy loại hoa (Quỳ, Sen, Lê, Cúc, Mai, Lan và Mẫu Đơn) và diễn ý hoa đã dâng. Cuối cùng là phần cảm tạ và kết hoa. Trong mỗi phần đều có qui định những chỗ đứng, quỳ, bái, cúi, … rõ ràng.

Nhà sử học Công giáo Võ Long Tê đã viết: “Dân Việt vốn ưa ca hát. Tiếng Việt vốn có nhạc tính phong phú, ngay trong những lời kinh nguyện. Nhật tụng cũng đã là những cung điệu trầm bổng, nhịp nhàng. Cao hơn một bậc nữa là những cung ngân nga khi đọc Sách Thánh, những điệu bi ai mùa Thương Khó, những bài vè vãn dâng tiến Đức Bà. Tất cả đều thấm nhuần hồn nhạc, lời thơ cổ truyền của dân tộc và sống động đức tin. Sốt sắng và đặc sắc hơn hết là những bài vãn dâng hoa, tổng hợp được ba nghệ thuật: thi, vũ, nhạc trong niềm kính mến Đức Mẹ.” (Lịch sử văn học Công Giáo Việt Nam, Sài Gòn 1965).

Di cư vào miền Nam, nhiều giáo xứ vẫn còn giữ những tập tục như ngoài Bắc, nhưng dần dà con người và không gian sống đã hoàn toàn khác xưa. Ở những giáo xứ tại thành phố, không còn những đội trống, đội trắc để tập dợt. Không còn những kiệu rước trong xóm, quanh làng. Không còn những con hoa, đội hát của các khu để thi thố tài năng. Nơi nào khuôn viên nhà thờ rộng thì còn kiệu rước chung quanh nhà thờ vào đầu tháng hoa còn không thì chỉ rước kiệu từ đài Đức Mẹ vào nhà thờ.

Ngày nay, người ta muốn cải biên và cách tân những bài vãn dâng hoa bằng những bài hát có nhịp điệu hiện đại. Nhiều đội hoa chạy theo trào lưu ca múa của thời đại bằng các “liên khúc dâng hoa” với những trang phục, cử điệu màu mè. Đội hoa chỉ làm những động tác theo một số bài hát trong băng, đĩa nhạc do ca sĩ, hay ca đoàn hát. Có thể nói đó là một cuộc “múa hoa” hơn là “dâng hoa” vì mặc dù trông đẹp mắt hơn, hoành tráng hơn nhưng lại thiếu đi tâm tình cầu nguyện và dâng tiến bên trong. Cộng đoàn thì chỉ như những khán giả ngồi xem một màn trình diễn chứ không thể tham dự cách tích cực vào việc đạo đức này.

Dâng hoa phải được hiểu và được làm như thế nào để vừa phát huy được những tinh hoa của truyền thống, lại vừa đáp ứng được những nhu cầu cách tân trong sinh hoạt đạo đức của người Công Giáo Việt Nam. Có lẽ đây cũng là những trăn trở của các nghệ sĩ Công giáo vì đây là một trong những sinh hoạt đạo đức bình dân, đậm nét vui tươi; nhằm diễn tả tâm tình yêu mến, thảo hiếu đối với Mẹ Maria và qua Mẹ để tôn vinh Thiên Chúa.

Hoa nở rồi sẽ tàn, lòng người cũng sẽ phai nhạt và nguội lạnh nếu không đón nhận được ý nghĩa linh thiêng từ những việc đạo đức này. Chỉ những bông hoa lòng được vun tưới bằng tâm tình cầu nguyện, được ấp ủ bằng kinh Mân Côi, được chăm bón bằng Tin Mừng mới tỏa hương khoe sắc và sẽ được đón nhận bằng chính Trái tim yêu thương của Mẹ. Trong tháng hoa, đồng thời với việc dâng lên Đức Mẹ những bông hoa hữu hình tươi thắm, ta cũng cần dâng lên Thiên Chúa qua Mẹ Maria những đóa hoa thiêng không bao giờ tàn phai. Những bông hoa nhân đức lúc nào cũng khoe sắc và tỏa hương thanh thoát trong tâm hồn mỗi người con dân đất Việt.


Tháng hoa Đức Mẹ 2018


Thứ Năm, 15 tháng 3, 2018

THÁNH GIUSE - XIN VÂNG THẦM LẶNG


Con người hôm nay phụ thuộc nhiều vào khoa học, kỹ thuật và dường như chỉ tin vào nó. Ngoài những thứ mà họ tận “mục sở thị “ bằng tri thức, họ chẳng tin vào thứ gì. Có thể nói đây là một “tôn giáo” mới của thời đại hôm nay, nhất là đối với những người trẻ được học hỏi nhiều về khoa học kỹ thuật từ trong nhà trường hay trong cuộc sống.

Tin Mừng lễ Thánh Giuse - Bạn Trăm Năm Đức Maria minh họa cuộc đời thánh Giuse như gương mẫu cho chúng ta về một đức tin chân thật. Luôn lắng nghe và sẵn sàng vâng theo ý Chúa. Dù chưa hiểu được ý nghĩa hay thấu cảm được gì nhưng vẫn ký thác mọi sự và dốc lòng tin vào Chúa.

Thánh Phaolô trong thư Do Thái đã nói: “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Dt 11, 1). Nhờ đức tin mà thánh Giuse được chọn làm bạn Đức Maria, và ông có sứ mạng “chăm sóc Đức Giêsu và Đức Maria”. Trong Tin Mừng, thánh Giuse không giỏi về ăn nói, nhưng trỗi vượt về “Công Chính”.

Công chính ở chỗ ông biết can đảm tín thác trong nghịch cảnh. Công chính vì ông luôn tuân phục Thánh Ý Chúa. Tin Mừng không ghi lại lời nói nào của ông, mà chỉ mô tả những việc ông đã âm thầm thực hiện qua những giấc mơ báo mộng của Thiên Thần.

Khi nói đến hai tiếng “xin vâng”, ta thường nghĩ ngay đến Đức Maria khi được sứ thần truyền tin mà thường ít để ý đến tiếng xin vâng thầm lặng của thánh Giuse. Bốn lần Sứ thần báo mộng đều được ngài đáp trả bằng hai tiếng “xin vâng” trong thinh lặng. Thinh lặng cũng là một ngôn ngữ. Ngôn ngữ nội tâm, tín thác và chân thật.

Trong tường thuật về gốc tích Đức Giêsu Kitô, thánh Matthêu giới thiệu bà Maria là thân mẫu của Đức Giêsu đã đính hôn với ông Giuse, nhưng trước khi chung sống thì đã có thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, vốn là người công chính, không muốn tố cáo bà công khai, nên đã toan tính bỏ bà một cách kín đáo. Khi đang trằn trọc toan tính như vậy thì có sứ thần của Chúa đến báo mộng rằng: “Này Giuse, đừng sợ rước Maria về...” Thức giấc, ông Giuse vâng theo lời sứ thần Chúa dạy rước vợ mình về nhà (Mt 1, 18-24).

Trong ánh sáng huy hoàng của ngôi sao phương Đông cùng sự sấp mình cung kính thờ lạy của ba vị đạo sĩ, có lẽ Giuse cũng đã nghĩ đến việc “sinh cơ lập nghiệp” tại Bêlem cho đến khi Hài Nhi và mẹ Người mạnh khỏe. Nhưng khi sứ thần Chúa lại hiện đến báo mộng phải thức dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập vì vua Hê-rô-đê sắp tìm giết Hài Nhi! Ông trỗi dậy đi ngay giữa đêm khuya, không ngại ngần, thắc mắc (Mt 2, 13-14).

Cũng vậy, khi cuộc sống gia đình trên đất Ai-cập đang dần dần ổn định. Sứ thần Chúa lại hiện ra báo mộng và “ông liền trỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Israel” (Mt 2, 19-21). Rồi ở Giuđê ông cũng đã vâng theo lời Thiên Chúa báo mộng đưa thánh gia lánh sang vùng Galilê và đến ở tại thành Nazaret, để ứng nghiệm lời đã phán qua miệng các ngôn sứ rằng: Người sẽ được gọi là người Nazaret (Mt 2,23).

Thật là một gia đình “di dân” long đong vất vả, trầy trật mãi mới tìm được chốn “an cư lạc nghiệp” chỉ vì nghe theo những lời báo mộng! Nếu không có một đức tin chân thật, một đức ái chân thành, thánh Giuse sẽ không làm theo điềm báo của giấc mộng. Tính chân thành của thánh Giuse là sống đức ái thinh lặng, là dám hi sinh cho người mình yêu. Nhờ đó, thánh Giuse đã sống và chết cho Đức Maria và Chúa Giêsu với hai tiếng xin vâng thầm lặng.

Thánh nhân thật là người tôi tớ trung thành và khôn ngoan, và là người có một lòng tin mãnh liệt vào Thiên Chúa. Không lý lẽ thâm sâu uyên bác, không bóng bảy hoạt ngôn. Người hoàn toàn tuân phục, hoàn toàn để cho Chúa hành động và mau mắn thực thi điều Chúa muốn. Ðó là kiểu mẫu tuyệt vời về lòng tin tưởng, phó thác.

Trong cuộc sống duy lý ngày nay, khi chưa hiểu rõ được vấn đề, người ta thường hay phân bua rằng mình đúng lý chứ không phải đuối lý. Khi gặp những khó khăn, thất bại người ta thường hay buông xuôi và oán trách cuộc đời. Những lúc như thế, người Kitô hữu chúng ta có giữ được thái độ như thánh Giuse thinh lặng cầu nguyện để tìm kiếm và xin vâng theo Thánh Ý Chúa không?

Kính dâng Thánh Quan Thầy, tháng kính thánh Giuse 2018.


Thứ Bảy, 3 tháng 2, 2018

BÁC THẰNG BẦN


Những ngày cuối năm, trên các phương tiện truyền thông đại chúng, bên cạnh những tin liên quan đến tổng kết lại rộ lên những tin tức liên quan đến tiền bạc như bể hụi, đòi nợ, trốn nợ …. Nguyên nhân thì nhiều, nhưng tựu trung có thể nói đa phần vì lòng tham của con người. Trong kinh nhà Phật, tham đứng đầu trong tam độc tham, sân, si  những nguyên nhân gây ra bất hạnh, phiền não và ưu tư cho con người.

Lòng tham khiến con người đầu tư hầu hết thời gian và tâm trí vào những việc để có thể đạt được danh vọng đồng thời tích lũy cho được thật nhiều tiền bạc, của cải vật chất. Lòng tham lam sẽ dẫn người đi xa đến mức sẵn sàng dùng bất cứ thủ đoạn nào, cách thế nào để có thể vơ vét và gom hết về cho bản thân mình mọi thứ được coi là quí giá dưới mắt con người.

Tệ hơn nữa, vì muốn chiếm hữu hết mọi thứ nên khi đang lo chạy theo tiền của, người ta sẽ mù quáng đến mức quên mất cả sự an toàn cho bản thân mình. Để rồi đến một lúc nào đó không ngờ, họ sẽ bị rơi tỏm xuống vực thẳm của nó và có khi phải trả giá đắt bằng chính mạng sống mình. Ðúng như câu nói “tham thì thâm” rất chí lý mà ông bà ta đã để lại.

Đó thường là những người lười biếng, ngán ngại lao động; chỉ muốn ngồi mát ăn bát vàng, gặt những thứ mà họ không bao giờ gieo. Họ nghĩ rằng mình sẽ có thể kiếm tiền, làm giàu dễ dàng bằng chơi cờ bạc, cá độ, xổ số; và lao đầu vào những cuộc đen đỏ. Lúc đầu chỉ là mua một vài tờ vé số cầu may, nhưng rồi ngày càng nhiều hơn; cho đến lúc máu ăn thua nổi lên thì những hình thức cờ bạc bất hợp pháp bắt đầu lôi kéo họ.


Ngày nay có rất nhiều hình thức đánh bạc: người giàu có thể du lịch nước ngoài vào casino, đánh bài với máy, chơi games sử dụng tiền ảo nhưng lại chung chi bằng tiền thiệt, đá gà, cá độ trên mạng internet...; nhưng phổ biến và bình dân nhất là chơi số lô, số đề. Nhiều người cho rằng ngay từ khi nhà nước phát hành xổ sổ kiến thiết thì việc đánh bạc bằng hình thức chơi lô đề cũng đã xuất hiện. Nó đánh trúng tâm lý thích ăn thua đủ của dân ham mê cờ bạc và muốn làm giầu một cách nhanh chóng.

Không cần phải đi đâu xa, chỉ cần ngồi tại nhà bấm điện thoại là người ta có thể ghi “đề”. Thiếu tiền ư? Đã có đội ngũ những “ngân hàng cột điện” sẵn sàng cho vay với “lãi suất 0%” và thủ tục tối giản! Tất cả những kịch bản này như những cái vòi bạch tuộc len lỏi vào mọi tầng lớp, mọi thành phần… khiến nhiều người (trong đó không ít những người Công giáo chúng ta) mang nợ nần ngập đầu; tài sản và sự nghiệp tiêu tan, gia đình lâm vào hoàn cảnh bi đát.


Đã là con bạc tất nhiên phải “khát nước”, thắng thì họ nhất định muốn chơi tiếp để kiếm thêm, khi có người can ngăn thì họ nói rằng khi nào kiếm đủ thì sẽ thôi. Nhưng cuộc đời biết thế nào là đủ, biết lúc nào mới đáp ứng được cái lòng tham vô đáy của con người. Rồi lại có lúc thua, thua thì xót xa nhưng vẫn hậm hực muốn chơi tiếp để gỡ lại khoản tiền đã mất. Thế là họ cứ loanh quanh luẩn quẩn với cái vòng chơi ấy.

Khi hết tiền, họ sẵn sàng vay công mượn nợ với lãi suất cao, mượn đầu này đắp đầu kia. Khi không còn khả năng xoay sở, bị chủ nợ đe dọa, khủng bố; họ “đưa” cha mẹ, anh em, con cháu đứng ra trả thay. Nhục nhã ê chề nhưng họ vẫn chứng nào tật ấy. Như con thiêu thân liều chết lao đầu vào lửa, họ vẫn tiếp tục quay cuồng đánh cược với những con số, để rồi biết bao đồ đạc trong nhà phải ra đi mà không thèm đội nón. Khi đến cái nhà cũng bị siết nợ thì “bần cùng sinh đạo tặc” làm liều trộm cướp, dấn thân vào con đường phạm pháp tù tội như câu nói dân gian:
Cờ bạc là bác thằng bần
Cửa nhà bán hết tra chân đi cùm.


Có những con bạc đi nhà thờ, hành hương khắp nơi với mục đích cầu xin cho mình được trúng số, trúng lô trúng đề hoặc thắng bạc để có nhiều tiền dâng hiến cho nhà thờ này, xứ đạo kia hoặc cho các mục đích từ thiện! Nhưng thực sự thì ít có người nào đạt được điều mình xin, từ đó người ta dần dần xa rời đạo Chúa. Còn số ít những người may mắn trúng thì chỉ vài năm sau lại rơi vào hoàn cảnh tồi tệ hơn trước khi họ trúng số.

Thi thoảng nếu có người nào đó dùng tiền cờ bạc để làm việc bác ái thì chắc chắn đây không phải là việc đẹp lòng Chúa vì "Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được.” (Mt 6, 24; Lc 16, 13). Hàng ngàn năm trước, Chúa Giêsu đã cảnh báo: "Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu." (Lc 12, 15).

Khi nói vậy, Chúa Giêsu không có ý khinh chê tiền bạc và của cải; vì chúng là phương tiện để trao đổi những sản vật nuôi sống con người đồng thời tạo cho việc phân phối, chia sẻ và giúp đỡ nhau trong xã hội được dễ dàng. Mặt khác, Ngài cũng nhắc nhở chúng ta hãy thận trọng đừng sa vào cạm bẩy của nó. Tiền của có sức thu hút rất mạnh, và nhất là theo một lập luận rất logic khiến người ta sẵn sàng làm việc vì nó và cho nó một cách mù quáng như một nô lệ trung thành và tự nguyện.


Cờ bạc thể hiện rõ nét nhất qua việc tập trung vào lòng yêu thích, ham muốn tiền của và sức cám dỗ có thể làm giàu nhanh chóng và dễ dàng. Chúng ta hãy cảnh giác với cờ bạc, đừng nghĩ rằng mình chỉ chơi cho vui trong những ngày nghỉ lễ, Tết hoặc với những đồng tiền lẻ là vô hại. “Đánh bạc quen tay, ngủ ngày quen mắt, ăn vặt quen mồm”, thói quen tưởng chừng như vô hại đó sẽ dẫn chúng ta đến sự đam mê tiền bạc và lòng ao ước sự giàu có.

“Còn những kẻ muốn làm giàu, thì sa chước cám dỗ, sa vào cạm bẫy và nhiều ước muốn ngu xuẩn độc hại; đó là những thứ làm cho con người chìm đắm trong cảnh huỷ diệt tiêu vong. Thật thế, cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé.” (1Tm 6, 9-10). Thế nên người Kitô hữu hãy tránh xa tệ nạn cờ bạc, lô đề để “đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật.” (Rm 13, 8).