Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

CHUYỆN XÓM GIỀNG

Một hôm, có người thông luật kia đứng lên hỏi Ðức Giêsu để thử Người rằng: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?"  Người đáp: "Trong Luật đã viết gì? Anh đọc thế nào?" Anh ấy thưa: "Ngươi hãy yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi và người thân cận như chính mình".  Ðức Giêsu bảo anh ta: "Anh trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống" (Lc. 10,25-28).

Nhưng ai là người thân cận của tôi? Tục ngữ VN có câu “nhất cận thân, nhì cận lân” rất ý nghĩa. Người thân cận với tôi không phải là một ý niệm trừu tượng. Không chỉ là những người cùng huyết thống, cùng nhà, cùng đoàn thể, cùng tôn giáo, cùng quê hương, cùng lý tưởng. Người thân cận với tôi còn là những người lao động chung cơ quan, đoàn thể và nhất là người những người hàng xóm mà tôi phải chung sống và chịu đựng hằng ngày.

Con người ngày nay quá quen với lối sống ích kỷ, thực dụng. Họ đề cao tự do cá nhân nhưng lại muốn đùn đẩy trách nhiệm cho người khác. Họ muốn được hơn người trong cộng đồng, khu xóm và luôn cảm thấy thấy khó chịu với những người hàng xóm. Khó chịu vì những âm thanh karaoke ồn ào được phát ra từ những chiếc loa phóng thanh công suất lớn, vì những bãi phóng uế bừa bãi của vật nuôi, vì những bịch rác để không đúng chỗ, từ vũng nước xả ra từ sân nhà bên đọng lại…

Những khó chịu đó cứ chất chứa trong lòng và tích tụ lâu ngày như thùng thuốc súng chờ đợi có ngòi nổ châm vào là bùng lên những to tiếng, cãi vã - nhất là trong những ngày nắng nóng, oi bức vừa qua. Nếu ta hay cáu gắt lên vì những chuyện vặt với người hàng xóm của mình, ta rất có thể đi đến chỗ phát khùng, cãi cọ, thậm chí đi đến ẩu đả bởi vì sẽ có rất nhiều chuyện không đâu với những người hàng xóm để mà tranh cãi.


Những người thân cận của ta như vậy đó. Nói yêu thương thì dễ nhưng áp dụng vào đời sống thường ngày sao khó quá! Con người hôm nay cứ tưởng mình đã biết yêu và thường thấy tự mãn, hạnh phúc khi mình được yêu. Nhưng tình yêu thực sự bao giờ cũng cụ thể: chấp nhận chịu thua thiệt, chấp nhận gặp rắc rối, xáo trộn và hi sinh. Vì vậy lúc nào người ta cũng có cớ để né tránh yêu thương và sẵn sàng ăn thua đủ với nhau.

Đạo Công giáo là đạo của yêu thương: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Đức Giêsu đã làm mẫu gương tuyêt vời cho tình yêu ấy. Đặc biệt qua hành động rửa chân cho các môn đệ trong bữa Tiệc ly, và đỉnh cao là cái chết trên Thập giá. Đây là hành động tự hiến tế của Tình yêu cứu chuộc, là tự hủy mình đi để cho người mình yêu được sống.

Người môn đệ đích thực của Chúa Giêsu phải là người biết yêu thương, sự yêu thương này phải được thể hiện bằng mọi hành động trong cuộc sống. Thái độ sống thường nhật giữa các thành viên và với những người khác trong cộng đoàn phải là “nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.” (1Cr 13,4-7).

Yêu thương thì phải yêu thương người khác ngoài mình. Yêu thương mà  không có đối tượng là yêu chính mình, là ích kỷ. Yêu thương là cho đi. Khi ta yêu thương ai, ta thích cho người đó hoặc cái này hoặc cái nọ, yêu thương cao độ nhất là cho người ấy chính bản thân mình. Cho đi thì hạnh phúc hơn là lãnh nhận. Người thích cho đi thì yêu thương thật, kẻ thích lãnh nhận thì chưa biết yêu thương. Yêu thương còn phải hòa hợp, chấp nhận và tôn trọng những khác biệt của nhau.

Khởi điểm của yêu thương là mở lòng ra và chia sẻ. Thái độ mở ra, chia sẻ nầy đòi hỏi ta phải ra khỏi bản thân và đi đến với người khác. Thái độ nầy đòi hỏi ta phải từ bỏ tính ích kỷ vốn tiềm ẩn trong não trạng mỗi người. Thực sự biết quan tâm đến ích lợi và hạnh phúc của người khác ngay trong những suy nghĩ, ước mơ, và tính toán của mình. Biết nhìn nhận người khác ngay trong cái khác biệt của họ.

Cần đặt mình vào vị trí của những người hàng xóm và cố gắng có những cảm thông để chung sống hòa bình. Điều này không có nghĩa là ta nhu nhược và để mặc cho họ “tung hoành” theo bất cứ cách nào họ muốn. Hãy khởi sự xây dựng mối quan hệ hòa thuận bằng cách gạt bỏ những khó chịu và là người chìa tay ra trước. Hãy dùng những lời lẽ nhẹ nhàng và xắn tay áo lên để dọn dẹp những nguyên nhân làm ta khó chịu. Những người hàng xóm vẫn hiện diện mỗi ngày trong cuộc sống và ta chỉ có thể thay đổi cách nhìn về họ. Hãy chú ý đến những điều tốt đẹp họ làm và phớt lờ đi những thói quen có thể gây bực mình của họ.

Có một câu chuyện kể rằng: trong một xóm đạo, có hai người hàng xóm kia thường xuyên cãi nhau về những chuyện vặt vãnh. Mâu thuẫn của họ ngày càng trở nên gay gắt và cuộc sống căng thẳng hầu như không thể nào giải hòa được. Những cuộc cãi vã, gấu ó ngày càng tăng đến nỗi người ta phải đề nghị hai người tìm gặp Thiên Chúa ở trên một ngọn núi cao để xin Ngài hóa giải giúp.

Người thứ nhất vất vả leo lên tận đỉnh núi và thấy Thiên Chúa đang đợi anh ta ở đó. Anh ta kinh ngạc không thể tin vào mắt mình vì Thiên Chúa có khuôn mặt giống y hệt người hàng xóm đầy ác cảm và khó chịu của mình. Không ai biết Thiên Chúa đã nói gì mà khi trở về anh ta đã thay đổi và đến bắt tay làm hòa với người hàng xóm. Nhưng anh này vẫn cố chấp và thậm chí còn có những thái độ quá quắt hơn xưa.

Nhưng rồi vì áp lực của dân chúng, người hàng xóm còn lại cũng miễn cưỡng cố leo lên đỉnh núi để xem Thiên Chúa ra sao. Ở trên đỉnh núi, anh ta cũng bắt gặp Thiên Chúa có khuôn mặt giống như người hàng xóm khó ưa của mình. Từ lúc đó, anh ta thay đổi thái độ cư xử và chung sống hòa thuận không những với anh hàng xóm kia mà còn với mọi người khác trong xóm.

Nhờ gặp gỡ với Thiên Chúa, hai người hàng xóm trong câu chuyện trên đã “ngộ” ra tha nhân chính là hình ảnh của Thiên Chúa. Quả thật, Thiên Chúa đã hóa thân làm người và cùng sống chia vui, sẻ buồn với kiếp người chúng ta. Ta không cần phải tìm kiếm Thiên Chúa nơi cao xa chót vót. Thiên Chúa đã và đang hiện diện quanh ta trong mỗi phút giây cuộc sống, ngay trong những người hàng xóm quanh ta. Mỗi Kitô hữu chúng ta phải sống thế nào để “tỏa sáng giữa đời thường”, để những người hàng xóm cũng nhận ra được hình ảnh sống động của Thiên Chúa trong ta.

Đức Thánh Cha Phanxicô trong Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo 2015 đã kêu gọi mọi thành viên của Hội Thánh hãy rao giảng Tin Mừng bằng chứng tá đời sống của mình. Đức Thánh GH Gioan Phaolô II cũng đã nói đến sứ mệnh của mỗi gia đình là “gìn giữ, biểu lộ, và thông truyền tình yêu, và đây vừa là một phản chiếu sống động vừa là một sự thông dự thực sự vào Tình yêu Thiên Chúa dành cho con người, Tình yêu của Chúa Kitô dành cho Hội thánh, Hiền Thê Người”.

Ước chi mỗi người, mỗi gia đình Kitô hữu hãy Tân Phúc-Âm-hóa đời sống Giáo xứ và Cộng đoàn bằng chính những người hàng xóm thân cận của mình để xây dựng những khu xóm không còn những tiếng cãi vã và trở thành một cộng đoàn hiệp thông để truyền rao Tình Yêu Thiên Chúa. Amen.

Đã đăng trên:

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

ĐƯỢC SAI ĐI


Loan báo Tin Mừng là công việc của người môn đệ Chúa, là ơn gọi Chúa ban cho mỗi chúng ta. Xã hội đương thời đang sống trong khủng hoảng “nhiều người, việc ít”. Nhưng Chúa Giêsu lại gợi lên một thực trạng ngược lại “việc nhiều nhưng thiếu người”, “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít”.
Lời Chúa trong phụng vụ Chúa nhật XV thường niên mời gọi ta ý thức lại ơn gọi của kẻ được sai đi để trao bình an giữa những nghịch cảnh đời người.
12 Tông đồ được sai đi theo bài sai của chính Chúa Giêsu. Bài sai này xuất phát từ sự quan tâm thao thức trước tình trạng thiếu hụt thợ gặt trên cánh đồng truyền giáo của Chúa. Việc sai đi từng hai người một nói lên tính cộng đoàn, nghĩa là các môn đệ của Chúa cần cộng tác và liên đới với nhau trong sứ vụ.
Các ông không làm việc riêng lẻ mà làm việc theo nhóm với tinh thần trách nhiệm. Cùng chung vui-chia cực-sẻ khổ với nhau, và cùng theo một đường hướng nhất định. Sau này thời tông đồ công vụ cũng thực hiện y như thế: Phê-rô và Gio-an (Cv 3,1; 4,13), Phao-lô và Ba-ra-ba (Cv 13,2), Giu-đa và Si-la (Cv 15,22b).
Hành trang, lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng… là những nhu cầu dự phòng của cá nhân dễ làm cho người môn đệ phân tâm. Đơn giản Chúa không cần mấy thứ đó. Hành trang cần mang chính là sự tín thác và tinh thần siêu thoát để dễ trao ban cho người khác.

Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo. Người bảo các ông: "Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi. Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ." (Mc 6, 8-11)

Các tông đồ được sai đi không phải để làm công việc tiếp thị Tin Mừng  nhưng là đem Tin Mừng tiếp cận với con người, ngay cả trong những nghịch cảnh đời tông đồ: được và không được đón nhận. Nghịch cảnh ấy không nhận chìm căn tính tông đồ nhưng giúp họ có sức mạnh trung thành với sứ mạng và can đảm khôn ngoan hiền hòa như chiên giữa bầy sói.

Chúa muốn Lời sức mạnh của Ngài là hành trang thiết yếu trong những chuyến đi của các môn đệ. Họ cất bước ra đi trong sự nghèo nàn để không cậy dựa vào bất cứ điều gì ngoài sự tin tưởng, phó thác. Ngay cả những nhu yếu phẩm hàng ngày như cơm ăn, áo mặc thì cũng chỉ nhận lãnh như những quà tặng của những người họ ghé thăm.
Nhưng con người thường tự trang bị cho mình đủ các thứ: tham vọng, kiêu căng và bao nhiêu ảo vọng không phải thuộc về Chúa. “Con người cũ” vẫn còn hiện diện trong mỗi chúng ta. Người môn đệ phải từ bỏ tất cả những gì có thể ngăn cản lời Chúa. Làm việc tông đồ, càng bỏ mình, càng tin phục vào Chúa thì mới đạt hiệu quả.

Khi sai các tông đồ đi, Chúa Giêsu cũng chia sẻ với họ một phần quyền năng của Ngài, quyền trên sự dữ. Các ông ra đi là đi vào cuộc chiến chống ma quỷ. Xua tan đi ma quỷ đang chiếm hữu các tâm hồn, giải thoát con người khỏi ách nô lệ của thần dữ và những bệnh tật tâm hồn, thể xác.
Lên đường đến với muôn dân, người môn đệ được mời gọi trao truyền bình an cho người khác. Bình an đó là bình an cứu độ, bình an nội tâm, bình an siêu nhiên. Bình an có thể hiểu là của những người mang dấu tích cuộc khổ nạn của Đức Kitô như trong thư Galát của Thánh Phaolô.
Chúa vẫn sai chúng ta, những người tông đồ của Thánh Tâm Chúa từ bỏ tất cả để ra đi. Từ ngày chúng ta chịu phép Thêm sức là chúng ta đã lãnh bài sai ra đi và ngày chúng ta tuyên hứa là một lần tái nhận. Ra đi ngày nay là biến cuộc sống hằng ngày thành một tuyên xưng đức tin sống động và rõ rệt. Hành trang của chúng ta không có gì khác ngoài niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự yêu thương của Thánh Tâm Chúa.
Công Đồng Vatican II, trong sắc lệnh về truyền giáo (Ad gentes) đã nêu rõ: “Giáo Hội nhờ Chúa Thánh Thần thúc đẩy, cũng tiến bước trên con đường mà Chúa Giêsu đã đi, là nghèo khó, vâng phục, phục vụ và tự hiến thân cho đến chết”. Ngày nay, liệu chúng ta có dám từ bỏ tất cả để ra đi loan báo Tin Mừng chỉ với niềm tin tuyệt đối vào Đấng đã sai chúng ta đi không?


Đã đăng trên:


Thứ Ba, 23 tháng 6, 2015

NGÀI PHẢI ĐƯỢC NÂNG LÊN


Thiếu thời, tôi có may mắn được sống nội trú trong một cộng đoàn nhận Thánh Gioan Tiền Hô làm quan thầy. Những lời kinh nguyện hàng ngày “Lạy Thánh Gioan Tiền Hô Đức Kitô là Thánh sư chúng con, Thánh sư đã được Chúa chọn ngay từ trong lòng mẹ để dọn đường cho Chúa cứu thế, làm chứng và rao giảng về Ngài …” đã thấm đẫm và in sâu vào tâm trí tôi về một vị thánh mà đã có lần Chúa Giêsu ca ngợi là: “trong số những người sinh ra bởi người nữ, chưa từng có ai cao trọng hơn. (Mt 11,11).

Sự ra đời của thánh nhân là một đặc ân của Thiên Chúa vì Gioan Tiền Hô - hay còn gọi là Gioan Baotixita, Gioan Tẩy Giả - là con của thầy tư tế Da-ca-ri-a và bà Ê-li-sa-bét, chị họ của Đức Maria. Cả hai ông bà đều là người công chính trước mặt Thiên Chúa, sống đúng theo mọi điều răn và mệnh lệnh của Chúa, không ai chê trách được điều gì. Nhưng họ lại không có con, vì bà Ê-li-sa-bét là người hiếm hoi. Vả lại, cả hai đều đã cao niên (Lc 1,6). Cả hai không ngừng cầu xin Chúa ban cho họ một người con vì theo quan niệm Do Thái những cặp vợ chồng không con nối dòng trong ngày Đấng cứu thế ngự đến sẽ bị khinh khi, miệt thị.

Lời khẩn cầu của họ đã được Chúa dủ lòng thương nhậm lời. Trong cuộc bắt thăm thường lệ của hàng tư tế, ông Da-ca-ri-a đã trúng thăm được vào dâng hương trong Đền Thờ. Trong giờ dâng hương đó, toàn thể dân chúng cầu nguyện ở bên ngoài. Sứ thần Chúa báo tin cho ông biết Thiên Chúa đã nhận lời ông bà và vợ ông sẽ sinh một đứa con trai. Nhưng vì Da-ca-ri-a hoài nghi, vì thế Chúa đã để ông bị câm trong suốt thời gian vợ ông mang thai và sinh con.

Theo tục lệ của người Do Thái, khi con trẻ được tám ngày, người ta đến làm phép cắt bì, và tính lấy tên cha để đặt cho em. Nhưng cả hai ông bà đều dứt khoát đặt tên cho con trẻ là Gioan. Tên Gioan có nghĩa là “Chúa thương” và đó là tên do sứ thần Chúa bảo ông phải đặt cho con mình. Đây là một cái tên đặc biệt vì không ai trong họ hàng bà Ê-li-sa-bét có tên đó. Ai nấy đều bỡ ngỡ. Ngay lúc ấy, miệng lưỡi ông Da-ca-ri-a lại mở ra, nói được, và dâng lời ngợi khen Thiên Chúa: " Hài Nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao; con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người, bảo cho dân Chúa biết : Người sẽ cứu độ là tha cho họ hết mọi tội khiên" (Lc 1, 76-77).

Gioan còn được Thiên Chúa ban cho đặc ân khỏi tội nguyên tổ từ khi ông còn là bào thai nhảy mừng trong bụng mẹ khi được Đức Maria viếng thăm.(x. Lc 1,39-45). Ngoài Chúa Giêsu và Đức Trinh Nữ Maria, chỉ có Gioan Tiền Hô là vị thánh được Giáo hội mừng kính vào ngày sinh nhật (24/6) và ngày qua đời của mình (29/8). Tất cả chúng ta, khi mở mắt chào đời, đều mang theo mình tội nguyên tổ. Nếu lập nhiều công phúc ở trần gian mà về trời hiển thánh thì mới được mừng lễ vào ngày qua đời (ví như ngày sinh nhật tại nước trời) như bao vị thánh. Còn thánh Gioan lại được Giáo hội mừng cả lễ sinh nhật trần gian và sinh nhật nước trời nhờ đặc ân cao cả này.

Được Thiên Chúa tuyển chọn, Gioan đã thi hành sứ vụ của mình bằng những hành động dấn thân tích cực. Ngay từ khi thơ ấu, theo tiếng Chúa gọi, ông đã sống đời ẩn dật cầu nguyện trong hoang địa, tức vùng đồi núi Giu-đê. Đời sống vật chất khắc khổ: mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng. Nhưng càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh. Cuộc sống trong hoang địa đã tôi luyện cho ông chú tâm lắng nghe và thực hiện ý Chúa. Tâm hồn ông luôn hướng về Đấng cứu thế mà ông sẽ phải làm kẻ "dọn đường". Ông là vị ngôn sứ cuối cùng và cao cả của Cựu ước (x. Lc 1,76; Mt 11,9), là chứng nhân đầu tiên của Đức Giêsu Kitô.

Như lời chép trong sách ngôn sứ I-sai-a, Gioan Tiền Hô đã xuất hiện trong hoang địa, đi rao giảng khắp vùng sông Gio-đan kêu gọi mọi người ăn năn sám hối chịu phép rửa để được ơn tha tội. Mọi người từ khắp miền Giu-đê và thành Giê-ru-sa-lem kéo đến với ông để được nghe giảng dạy. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong nước sông Gio-đan. Ngay Đức Giêsu cũng nhận lãnh phép rửa sám hối từ tay ông tuyển chọn những môn đệ đầu tiên của mình từ những môn đệ của ông.

Danh tiếng của Gioan  đã khiến một số người Do Thái lầm tưởng ông là Đấng cứu thế mà dân chúng hằng mong đợi, nhưng ông khiêm tốn trả lời: "Phần tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa.” (Lc 3,16).

Trong suốt cuộc đời, Gioan luôn luôn khiêm tốn nhận mình nhỏ bé. Chính ông tự giới thiệu mình là tiếng kêu trong hoang mạc, người tiền hô cho Đấng cứu thế đang đến. Ông nói: Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói. (Ga 1,23).  “Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người." (Ga 1,27). Và trong lời chứng cuối cùng của mình về Đức Giêsu, Gioan đã đưa ra khẩu hiệu Illum oportet crescere, me autem minui” (Ngài phải được nâng lên, còn tôi phải hạ xuống) (Ga 3,30).

Khẩu hiệu này đã trở thành lý tưởng, là luật sống cho các cộng đoàn và mỗi người nhận thánh nhân làm quan thầy. Đối với người Kitô hữu sống là sống cho Chúa, vì Chúa và với Chúa. Vì vậy trong cuộc sống, ta phải không ngừng “gạn đục, khơi trong”; chấp nhận gọt tỉa và vứt bỏ những gì là thừa thãi trong “cái tôi” để khuôn mặt Đức Kitô luôn nổi bật, tỏa sáng trên mỗi khuôn mặt chúng ta.

Mừng sinh nhật thánh Gioan, Giáo hội cũng mời gọi mỗi người chúng ta nhìn lại ơn gọi làm ngôn sứ của mình từ ngày được tái sinh trong phép rửa tội. Trong ngày đó ta cũng đã lãnh nhận ngọn nến sáng với sứ mệnh “tiền hô” của Đáng cứu thế lan tỏa cho nhân gian. Dù sống trong hoàn cảnh nào, ánh sáng của người Kitô hữu chúng ta “phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời. (Mt 5,16).

Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu, Chúa đã ban cho Thánh Gioan tiền hô những đặc ân để chuẩn bị cho Chúa một dân tộc thánh thiện. Thánh nhân đã giúp cho những người đương thời ăn năn sám hối, chịu phép rửa để được ơn tha tội đón tiếp Chúa. Xin cho những quanh co, vòng vo trong lòng chúng con được nên ngay thẳng; những mấp mô, lấn cấn trong tâm hồn được san cho phẳng để chúng con trở nên công cụ giúp người khác gặp được Chúa.

Xin cho chúng con được tiếp bước theo con đường của thánh nhân: làm chứng và rao giảng Tin Mừng với tinh thần khiêm hạ không khua chiêng, đánh trống. Cho chúng con biết mỗi ngày tự hạ mình xuống để làm tôn vinh Chúa trong những khi thành công hay thất bại. Xin cho chúng con dù ở trong hoàn cảnh nào, bậc sống nào vẫn luôn luôn khắc ghi trong lòng phương châm sống đã được hun đúc qua khẩu hiệu bao quanh ngọn lửa của cây nến Phục Sinh: "Illum oportet crescere”.

Sinh nhật Thánh Gioan Tẩy Giả 24/06/2015

Đã đăng trên:

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

ĐIỆP KHÚC THÁNG SÁU


“Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”. Mười lời nguyện Thánh Tâm Chúa Giêsu như điệp khúc lại ngân nga tràn ngập tâm hồn con khi tháng Sáu với lễ kính Thánh Tâm lại theo chu kỳ phụng vụ trở về. Như mặt đất mùa hè nóng ran chờ đợi những cơn mưa tưới mát, như cây cỏ hồi sinh sau những ngày nắng hạn. Con xin đến nương nhờ những giọt Máu và Nước đổ ra từ Thánh Tâm Chúa là nguồn Tình yêu rửa sạch và tái tạo mọi ngóc ngách khô khan trong tâm hồn.

Bắt đầu từ những nhu cầu của con thật nhiều và thật quá lớn, tưởng chừng như không có giới hạn. Nhu cầu vật chất như những cơn sóng liên tiếp bao phủ thân con. Chưa bao giờ con bằng lòng với cái tôi của mình, và với những gì con đang có. Nhiều lần con tìm kiếm những tiện nghi vật chất, sống nếp sống trưởng giả để tự thỏa mãn nhu cầu bản thân. Nhưng nhu cầu nào là tốt, là có lợi cho con? Nhu cầu nào đủ cho con và đẹp theo Thánh ý Chúa? Trong mọi nhu cầu, xin cho con biết chạy đến cùng Chúa, tin tưởng và khiêm nhường thưa với Chúa rằng: “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”.

Trong những lúc con do dự, phân vân và bị cám dỗ trong hành trình sống đức tin. Con hoang mang lo sợ, nhưng trí khôn vẫn mách bảo con phải tỉnh táo, phải uyển chuyển. Óc tưởng tượng trong con vẽ ra bao nhiêu cám dỗ đang khi Satan reo, giăng bẫy, nhử mồi. “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”. Xin chia sẻ cho con tinh thần kiên vững. Xin giúp con sống cho đến cùng những đòi hỏi của Tin Mừng mà không cần quan tâm, cân nhắc hậu quả. Xin giúp con vững tin vào Tình yêu Chúa mà dấn bước vào đời.

Con chỉ lo tìm kiếm sự an thân vật chất cho mình, chẳng thèm nhớ và quan tâm đến ai. Con không chấp nhận và chia sẻ với anh chị em quanh con. Con tưởng rằng với tài cán và sự tự do của mình, con có thể vượt lên khỏi đám đông nghèo hèn, thấp kém. Con đã quá ngạo mạn, đã đi ngược hướng Tình yêu Chúa. Con đã tự mình rời xa khỏi Thiên Chúa và kết cục là chỉ còn lại mình con lầm lũi gò lưng vác thánh giá mà con đã tự đặt cho đời mình. Trong những giờ cô đơn, mỏi mệt và thử thách đó. “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”.

Lúc những kẻ khác ruồng bỏ con, người thân, bạn bè … bỏ rơi con. Người thì thất vọng, thương hại cho con. Kẻ thì lắc đầu, bĩu môi, khinh bỉ. Tất cả đều quay lưng lại với con, bỏ mặc con trong lúc con cần được nâng đỡ nhất. Con cô độc, con không thể bước đi một mình, chỉ có ơn Chúa mới hỗ trợ con.  “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”. Xin đừng để con sa lầy trong trạng thái vô tình, thờ ơ, lãnh đạm. Xin giúp con biết nhìn ra và chấp nhận sự hiện diện của mọi người trong gia đình, khu xóm, cộng đoàn. Xin dạy con biết kề vai đỡ lấy cuộc đời của nhau. Xin cho con biết giúp đỡ và nhận sự giúp đỡ của tha nhân, để con không còn cảm giác bị bỏ rơi, ruồng rẫy trong cơn lốc cuộc đời.

Nhiều lúc con tưởng mình tài giỏi, con an tâm, hãnh diện vì đã làm được vài việc có ích cho đoàn th, anh em. Con mong ước, lập kế hoạch, lên chương trình nhiều việc. Thế nhưng, lạy Chúa, con đã lầm: con e rằng ma quỷ đã chiếm đoạt hết, vì có thể con làm không phải vì lòng yêu mến Chúa, không làm sáng danh Chúa. Bao nhiêu tâm huyết, bao nhiêu sức lực con đổ ra cho những mong ước, những chương trình đều thất bại. Lúc con tuyệt vọng, khốn khổ, ưu sầu. “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”.

Lúc tâm hn con bun phin, chán nn, nhận thấy các nỗ lực của con không ích lợi gì. Con chẳng thiết tha gì nữa, dấn thân, cố gắng…. Tất cả đã trở nên vô nghĩa. Chung quanh con giờ chỉ toàn là công kích, nghi ngờ, thất bại và cười khẩy khinh miệt. “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”. Xin cho con được nghỉ ngơi trong Thánh Tâm Ngài, được tựa đầu vào ngực Ngài, được nghe hòa cùng một nhịp đập với trái tim Ngài. Để trái tim con được tái tạo trong sạch. Được lưỡi đòng khi xưa mở ra: mở ra để lắng nghe Lời Chúa, mở ra để hy vọng, mở ra để tin yêu tha nhân.

Nhiều lúc con cm thy bn chn vì Thánh Giá của con làm con bứt rứt. Con không còn thiết tha chiến đấu nữa. Sự dữ đã khống chế con. Con bị sa ngã, quay lưng với Thánh Giá và lảng bước đi. Con không muốn chịu đau khổ và quên mất rằng Chúa là người đau khổ nhất: đau khổ ngay từ khi nhập thế trong máng cỏ lạnh lùng đến khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá. Dù vậy, Chúa vẫn quên đi những nỗi thống khổ của mình để nhớ đến những nỗi đau khổ của con. Chúa kêu gọi con hãy đến với Ngài để được nâng đỡ ủi an khi đau khổ. Chỉ có Chúa mới làm chúng con hết khổ, chỉ có Chúa mới làm chúng con vui mừng vác Thánh Giá trong khi chịu đau khổ. “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”.

Cách đây hơn hai ngàn năm, tình yêu Chúa xuất phát từ trái tim cháy bỏng đã gom góp tất cả trần gian khốn nạn và tội lỗi để dâng lên Chúa Cha: “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha”. Xin cho con cũng được phó mình trong Tình yêu dịu ngọt của Chúa, là Cha và là Đấng Cứu Chuộc. Cho con thành khẩn cúi đầu nhận lãnh sức sống phát sinh từ cạnh sườn Chúa. Dòng nước phát sinh Giáo hội và nuôi dưỡng mọi linh hồn. Dòng nước phát sinh sự sống mới: sự sống bất diệt, thần thiêng. Sự sống giúp con chiến thắng tội lỗi và vượt qua mọi thử thách trần gian. “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”.

Những lúc con đau yếu, trí óc và đôi tay con không làm được việc gì, và con bị cô độc, lẻ loi. Một mình con nằm bất động như vật hiến tế. Các ngũ quan của con ngưng hoạt động, linh hồn con đã gần kề lìa xác. Bệnh tật, già nua, yếu đuối … như những tảng đá ngàn cân đè xuống thân xác, không cho con ngẩng đầu lên nhìn Chúa và cầu khẩn được gì nữa, con đã kiệt sức rồi. “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”. Xin Thánh Tâm đừng để con bơ vơ, nhưng xin đưa con vào ẩn náu trong Trái Tim Chúa, để con được chữa lành trong Tình yêu của Ngài.

Trí óc con trống rỗng, trước Thánh Tâm Chúa con chẳng biết thưa gì! Con hoang mang, mê muội vì những toan tính đời thường. Dù chẳng có công trạng gì xứng đáng nhưng con vẫn luôn luôn, luôn luôn mặc dầu yếu đuối, sa ngã và những thiếu sót của con: “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”. Lời van xin, khẩn nài đó không chỉ là điệp khúc trong tháng Sáu nhưng là điệp khúc bất tận trong suốt cuộc đời con. Xin Thánh Tâm Chúa bảo vệ và an ủi tâm hồn con hôm nay, ngày mai và mãi mãi.

Tháng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu 2015


Đã đăng trên:
http://www.thanhlinh.net/node/89746

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2015

XIN NGÔI BA THIÊN CHÚA


Lạy Thánh Thần Ngôi Ba Thiên Chúa
Đấng chúng con phụng thờ tôn vinh
Cùng với Đức Chúa Cha và Chúa Con

Ngài là suối nước mát hằng sống
Cho lữ khách chúng con qua các sa mạc cuộc đời
Để đã khát trong tận cùng sâu thẳm
Tâm hồn và đời sống chúng con.

Như xưa trong ngày lễ Ngũ Tuần
Để nên trọn lời tiên tri của Chúa Giêsu và Thánh Gioan Tẩy giả
Ngài đã ngự xuống trên các tông đồ,
Cho họ nói tiếng lạsức mạnh để dấn thân phục vụ
Khai sinh kỷ nguyên Giáo hội.

Xin dậy cho chúng con biết nhìn
Với con mắt của Chúa Kitô
Biết sống như Chúa Kitô đã sống
Hiểu cuộc sống như Chúa Kitô đã hiểu.

Để cho Ngài hướng dẫn và nói với trái tim chúng con:
Thiên Chúa là tình yêu
Người luôn luôn chờ đợi chúng con
Người là Cha đích thật và yêu thương chúng con
Chúng con được Thiên Chúa yêu thương
Và với ơn của Chúa
Chúng con được sống như con cái của Người.               

Xin cho chúng con biết cảm nhận
Và lắng nghe Chúa Thánh Thần
Luôn vững bước trên con đường phục vụ
Trong tình yêu, lòng thương xót và ơn tha thứ.


Đã đăng trên :
http://menchuayeunguoi.com/index.php?option=com_content&view=article&id=7062:cu-xin-chua-thanh-thn&catid=140:tai-liu-vn-th-ngh-thut&Itemid=370

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2015

BUÔN CHUYỆN

Có lẽ do ảnh hưởng cái phong thái “ung dung tự tại” của người Á Đông, phần đông nam giới chúng ta đều có thói quen nhâm nhi cà-phê buổi sáng, dù có phải bận rộn cách mấy trong việc chuẩn bị cho một ngày làm việc. Người thì tạt vào một quán thân quen cùng vài người bạn sau giờ lễ sáng, người thì một mình trước màn hình TV “chào buổi sáng” hoặc lướt trên Internet để cập nhật tin tức, thời sự… bên những ly cà-phê tỏa hương vị nồng nàn, ấm áp.

Một vài câu chuyện được chia sẻ, một vài tin tức được thông báo. Người ta nhanh chóng thưởng thức ít giây phút nhàn nhã buổi sáng để rồi lại tất tả cho những công việc trong ngày. Nhưng cũng không ít lần hương vị cà-phê trở nên ngột ngạt, đắng gắt bởi lời ăn tiếng nói của những người buôn chuyện.

Người xưa trong giao tiếp rất cẩn trọng lời ăn tiếng nói và coi đó là một trong những chuẩn mực đánh giá đạo đức của con người. Từ bao đời nay, cha ông ta luôn nhắc nhở, khuyên răn trước khi nói phải cân nhắc ý tứ, chọn lời. Lời nói xuất ra từ miệng lưỡi thì luôn có sẵn, nhưng “lời hay ý đẹp” mà chúng ta dành cho nhau thì không phải lúc nào cũng có.

Thật hạnh phúc khi trong cuộc sống, sau những lời kinh nguyện dâng ngày và lắng nghe Lời Chúa trong Thánh lễ sáng sớm, ta lại được nghe những những lời hay, ý đẹp. Để từ đó tâm hồn thanh thoát bước vào một ngày mới với tâm tình con người sống thương yêu, gần gũi nhau hơn. Trong kho tàng dân gian VN đã có biết bao câu ca dao về lời ăn tiếng nói đã được chắt lọc từ thực tiễn cuộc sống:

"Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau"

Quanh ly cà-phê buổi sáng có những con người sống nhân nghĩa, biết đối nhân xử thế đúng mực, đúng chuẩn ở đời. Họ có những lời nói ngọt ngào, dịu dàng bao giờ cũng mang ấn tượng tốt, mang lại cảm tình, niềm vui giao tiếp cho người được tiếp xúc:

"Chim khôn kêu tiếng rảnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng, dễ nghe"
" Kim vàng ai nỡ uốn câu
Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời”

Nhưng cũng có những con người có tâm địa nhỏ nhen, ích kỷ, với lối nói nửa kín, nửa mở, nửa đùa, nửa thực; khiến cho người nghe áy náy, phân vân, không rõ thực hư thế nào, gây phiền muộn cho nhau:

"Người khôn ăn nói nửa chừng
Để cho người dại nửa mừng nửa lo”


Bên cạnh đó, người xưa cũng khuyên chúng ta khi hàn huyên, chuyện vãn phải biết dừng lại khi cần. Người nghe sẽ cảm thấy nhàm chán, mất hứng thú khi gặp người nói dai, nói dài và nhiều khi đi đến “nói dốt”

"Rượu lạt uống lắm cũng say
Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm”

Ách giữa đàng đừng mang vào cổ, chuyện người người biết, chuyện mình mình hay; đừng có tài khôn mà chuốc lấy họa vào thân. “Khi nói nhiều, người ta hay nói những điều không nên nói” (Khổng Tử). Thật là vô ích khi mình buôn chuyện của người để rồi tranh chấp, đôi co. Cũng không nên đặt điều nói lời oan ức cho người khác (chuyện có nói không, chuyện không nói có hoặc chuyện bé xé ra to) vì có ngày ta cũng lại “dở khóc, dở cười” vì những lời oan ức.

Hầu như mọi người được giáo dục tốt đều thấy được tầm quan trọng của lời ăn tiếng nói trong cuộc sống hàng ngày, nghĩa là suy nghĩ cẩn thận về những lời mình sắp nói ra. Đời sống của người Ki-tô hữu và đặc biệt là những người con của Thánh Tâm Chúa Giê-su càng phải cẩn trọng hơn trong lời nói, vì miệng lưỡi mình đã được hiến dâng cho Chúa.

Nếu không ý thức được như vậy, rất dễ chúng ta tôn vinh Chúa trong Thánh lễ sáng sớm, rồi lại mách lẻo, nói hành người khác ngay sau đó bên ly cà-phê. Tối đến, cũng môi miệng ta vừa dâng lên Thánh Tâm Chúa những lời kinh đền tạ nhưng sau đó lại tuôn ra những lời bỉ báng người khác. Lời nói của chúng ta có thể đem lại sự xây dựng cho người này hôm nay, nhưng bữa khác lại làm tổn thương cho người khác!

Người đoàn viên GĐPTTTCG cần có môi miệng trong sạch nghĩa là biết dùng lời nói mình trước là để tôn vinh Chúa, sau là nói ra những lời thẳng thắn, góp ý chân thật, chia vui, sẻ buồn với anh em đồng đạo và “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm” cho tha nhân.

Đừng để môi miệng mình trở thành công cụ trong tay ma quỷ khi thốt ra những lời dèm pha, khích bác người khác như lời Thánh Phao-lô đã khuyên các tín hữu: " Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe." (Ep 4,29).

Chúa Giê-su cũng nghiêm khắc nhắc nhở chúng ta sẽ bị lên án về lời nói của mình : "Cây mà tốt thì quả cũng tốt; cây mà sâu thì quả cũng sâu, vì xem quả thì biết cây. Loài rắn độc kia, xấu như các người, thì làm sao nói điều tốt được? Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra. Người tốt thì rút cái tốt từ kho tàng tốt của mình; kẻ xấu thì rút cái xấu từ kho tàng xấu của mình. Tôi nói cho các người hay: đến Ngày phán xét, người ta sẽ phải trả lời về mọi điều vô ích mình đã nói. Vì nhờ lời nói của anh mà anh sẽ được trắng án; và cũng tại lời nói của anh mà anh sẽ bị kết án." (Mt 12,33-37; Lc 6,43-45).

Thói buôn chuyện, nói hành nói xấu do miệng lưỡi gây ra làm cho kẻ sân si, người khổ sở, kẻ nộ, người ố. Do miệng lưỡi ton hót, dè bỉu mà gia đình ly tán, bè bạn tránh xa. Do miệng lưỡi nói ra những lời nói cay độc, nhục mạ nhau, chì chiết nhau ngày này qua ngày khác mà gia đình người ta xào xáo, anh em chia lìa…

Trong đời sống cộng đoàn cũng thế, thói buôn chuyện có thể gây chia rẽ, làm tổn thương sự hiệp thông giữa người trên kẻ dưới cũng như giữa các đoàn thể tông đồ. Đức Giáo Hoàng Phanxicô tại buổi gặp gỡ với hàng ngàn Linh mục, tu sĩ, chủng sinh và những người thánh hiến khác tại Nhà thờ chính tòa Napoli ngày 21/03/2015 vừa qua đã gọi thói buôn chuyện, nói hành nói xấu người khác là một thứ “khủng bố”. Ngài nhấn mạnh: Người nói hành nói xấu là một tên khủng bố ném bom, tự hủy diệt mình và người khác.


Có miệng nói đương nhiên phải có tai nghe, trong giao tiếp người lãnh đạo đoàn thể cũng cần cẩn thận giữ khoảng cách cần thiết với những người miệng lưỡi xun xoe, ton hót. Đừng để tai lắng nghe mà lòng không suy xét, kiểm chứng rồi tin ngay vào những điều xấu họ nói. “Xin cho biết rằng những tên nịnh bợ sống được là nhờ những người nghe chúng nó nói.”(La Fontaine)

Muốn khuyên bảo, trách cứ một người nào đó ta phải cân nhắc, suy tư chín chắn rồi mới nói (người xưa khuyên: uốn lưỡi bảy lần trước khi nói!), không thể trách người khi chưa thực sự tìm hiểu cặn kẽ nguyên nhân, hoàn cảnh… đưa đến lỗi lầm của họ. Trách người đến nỗi người phải câm miệng, im tiếng, đỏ mặt, toát mồ hôi; mình tuy hả giận song làm như thế tỏ ra mình còn nông cạn và khe khắt thái quá. (Lã Khôn).

Vua Đa-vít đã nói: "Mình phải giữ gìn trong nếp sống, để khi ăn nói khỏi lỗi lầm; tôi quyết sẽ ngậm tăm, bao lâu người gian ác còn đối mặt." (Tv 39,2). Vua Sa-lô-môn nổi tiếng về sự khôn ngoan cũng khuyên rằng: "Người năng nói năng lỗi, ai dè giữ lời nói mới là người khôn." (Cn 10,19). Chúng ta phải cẩn trọng giữ gìn lời ăn tiếng nói hàng ngày để tránh đi buôn những chuyện không đâu, vô tình làm hại người khác. Đừng quên rằng mỗi người phải chịu trách nhiệm về lời ăn tiếng nói của mình đã nói ra trong ngày phán xét trước mặt Thiên Chúa là Đấng thấy rõ và biết hết mọi sự. Amen.


Đã đăng trên:
http://www.thanhlinh.net/node/88379

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2015

CHÚA VỀ TRỜI - CON ĐI

Ngày xưa lúc còn nhỏ, tôi thường hình dung cảnh Đức Giê-su đang bay lên giữa các tầng mây cùng muôn vàn thiên thần đàn hát tung hô rồi ngự bên hữu Chúa Cha vào ngày Lễ Thăng Thiên. Những người lớn ngày ấy thường ghẹo tôi giữa trưa ngày lễ ra nhìn lên trời rồi đọc chục kinh “thứ hai thì ngắm Ðức Chúa Giê-su lên trời, ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời” thì sẽ thấy được Chúa lên trời!

Chắc hẳn cảnh tượng ngày Chúa về trời ngày ấy rất đẹp nên các tông đồ mới ngước mắt ngây ngất trông theo. Sách Tông đồ công vụ kể rằng Đức Giê-su được cất lên ngay trước mắt các tông đồ, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi thì có hai thiên thần từ đám mây hiện ra nhắc nhở, các ông mới hoàn hồn trở lại thực tại trần thế. (x. Cv 1,9-11)

Việc Đức Giê-su lên trời bắt đầu mở ra một trang sử mới trong việc loan báo Tin Mừng. Suốt thời gian theo Đức Giê-su ngược xuôi loan báo Tin Mừng, các tông đồ chỉ là những người tập sự. Nhưng từ đây, dưới sự hỗ trợ đắc lực của chính Đức Giê-su và Chúa Thánh Thần, các ông thực sự là những người đầu tiên làm chứng và thực thi những Lời đã được nghe Chúa giảng dạy.

Nói cách khác đây là cột mốc đổi đời của các tông đồ thành chứng nhân cho Đức Ki-tô. Việc loan báo cuộc khổ nạn của Ngài đã xảy ra rồi, nhưng Chúa Giê-su vẫn nhắc nhở lần cuối để các tông đồ xác tín vào Chúa và thi hành sứ mạng làm chứng nhân. Làm chứng là nhận thức một sự kiện mà chính mình đã có kinh nghiệm.

Làm chứng cho Đức Ki-tô là sống lại ân sủng mà mình đã lãnh nhận, là hiện tại hóa tình yêu Ngài đã trao ban cho mình. Chính xác hơn, làm chứng là chấp nhận bằng hành động một sự việc đã xảy ra, một sự kiện có thật mà mình thấy …

Chúa về trời nhưng Ngài không trở thành người quá cố. Ngài vẫn hiện diện bởi vì Ngài đã hứa "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28,20). Tuy vắng mặt, nhưng Ngài vẫn tiếp tục hiện diện qua Chúa Thánh Thần, Đấng Bảo Trợ: " Thầy nói thật với anh em: Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em." (Ga 16,7). Chúa còn hiện diện với chúng ta trong các bí tích và trong các cộng đoàn, "nơi có hai ba người họp mặt cầu nguyện".

Khi về trời, Đức Giê-su cũng đã hứa chuẩn bị chỗ ở vĩnh viễn cho chúng ta. Trong ngày cánh chung, Ngài sẽ trở lại đưa chúng ta lên vĩnh cư với Ngài: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14, 1-3).

Quê trời đã được chuẩn bị sẵn nhưng làm sao ta có thể đi đến nơi về đến chốn nếu chỉ đứng tại chỗ đăm đăm ngóng trông chờ đợi! Con đường dẫn tới quê hương hạnh phúc đó chính là nhiệm vụ ở trần thế. Con người vì tội lỗi, bất tuân chưa thực thi những Lời Chúa dạy nên cuộc sống còn những lo âu, đau khổ. Chu toàn nhiệm vụ trần thế là hết sức cố gắng góp phần xoá bớt đi những đau khổ, giúp mình và tha nhân tránh bớt tội lỗi, làm cho người ta biết Chúa và thực thi những Lời Chúa dạy.

Mục đích của Gia đình Phạt tạ Thánh Tâm Chúa Giê-su (GĐPTTTCG) là loan truyền Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô cho mọi người, nhưng rất nhiều đoàn viên chúng ta lại biết một cách rất mơ hồ, hoặc không biết đầy đủ nội dung mà chúng ta phải loan truyền. Để rồi cuối cùng chúng ta chẳng loan truyền được gì, hay loan truyền một thứ “tin chưa được mừng”, chưa đầy đủ.
Nhiều người nghĩ rằng loan báo Tin Mừng là tỏ ra cho người khác biết mình là Ki-tô hữu qua việc làm dấu thánh giá, can đảm kê khai lý lịch Thiên Chúa giáo… Kẻ khác lại nghĩ rằng loan báo Tin Mừng là siêng năng đi lễ nhà thờ, tham dự đầy đủ các giờ kinh đền tạ, các cuộc hội họp của đoàn thể... Người khác nữa thì tìm cách lôi kéo, thuyết phục những người ngoại đạo mà mình quen biết gia nhập đạo qua những việc bác ái, giúp đỡ vật chất …

Tất cả những việc đó đáng làm, cần làm, nhưng chưa đủ nội dung của việc loan báo Tin Mừng. Muốn loan báo Tin Mừng cho đúng nghĩa, người loan báo phải biết Tin Mừng là gì, phải cảm thấy tin mình loan báo là điều đã làm mình vui mừng, hạnh phúc. GĐPTTTCG  hướng đời sống cầu nguyện và mọi hoạt động tông đồ  vào mục đích loan truyền Tin Mừng Sự Sống và Tình Thương của Chúa, cùng kiên trì nỗ lực chung sức với mọi người vun đắp lối sống văn hoá sự sống và văn minh tình thương cho gia đình nhân loại, bắt đầu từ gia đình mình. (Nội quy GĐPTTTCG VN)

Không thể cho người khác cái mình không có! Có khi nào chúng ta nhận thấy Tin Mừng đã làm thay đổi và ảnh hưởng tốt đẹp đến đời sống mình chưa? Gia đình mình đã thật sự sống trong tình thương của Chúa để góp phần xây dựng lối sống văn hoá sự sống và văn minh tình thương cho khu xóm, cộng đoàn và gia đình nhân loại? Nếu đời sống mình, gia đình mình chưa tốt mà mình lại đi rao giảng Tin Mừng, muốn Tin Mừng ảnh hưởng tốt đẹp trên đời sống người khác, gia đình nhân loại thì có khác gì người mù lại dắt người mù (x. Mt 15,14) và như thế thì người nghe sẽ nhận được gì?

Cha Charles de Foucauld quả quyết: “Chỉ có một số người có khả năng làm chứng bằng lời nói, nhưng mọi người đều có thể làm chứng bằng đời sống lương thiện, gương mẫu và bằng đời sống Ki-tô hữu sinh động”. Vì thế, chúng ta cần phải siêng năng học hỏi và chia sẻ Tin Mừng, để Tin Mừng thấm sâu vào tư tưởng, lời nói, việc làm và đời sống của ta. Có như thế, việc loan báo Tin Mừng của ta mới có sức thuyết phục và trở thành chứng nhân tình thương của Chúa ngay trong môi trường sống và làm việc của mình.

Lạy Thánh Tâm Chúa Giê-su, xin canh tân đời sống tông đồ của chúng con, để chúng con có thể trở thành những chứng nhân Tin Mừng của Chúa. Xin cho chúng con biết “ái mộ những sự trên trời” nhưng biết can đảm chấp nhận sống kiếp nhân sinh với tất cả “hỉ nộ ái ố ai cụ dục”. Xin cho chúng con đừng đam mê danh vọng, chẳng mải mê lợi lộc, tìm tiện nghi hưởng thụ để rồi đánh mất Chúa là nguồn hạnh phúc vĩnh cửu.

Xin cho chúng con luôn ý thức được sự hiện diện của Chúa trong đời thường qua việc sống hết mình cho Chúa và tha nhân bằng con đường yêu thương và phục vụ. Xin cho chúng con “được trỗi dậy cùng với Đức Ki-tô, tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.” (Cl 3,1-2). Nhờ đó, chúng con và tha nhân đạt đến quê hương đích thực của chúng con ở trên trời. Amen, Alleluia!

Mùa Phục Sinh 2015

Đã đăng trên: