Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014

Tháng các linh hồn 2013: LUNG LINH ÁNH NẾN GỌI MỜI


Sau hơn năm tháng thi công với mong ước có nơi khang trang, sạch đẹp cho các linh hồn chờ ngày Phục Sinh. Chiều ngày lễ các Thánh, nghĩa trang giáo xứ tôi nhộn nhịp hẳn lên với Thánh Lễ tạ ơn, làm phép tượng đài Đức Mẹ Sầu bi, bàn thờ và khánh thành nhà hài cốt. Cụm công trình mới được xây dựng rực sáng trong buổi chiều tà và những phần mộ được sửa sang sạch sẽ, trang hoàng nến hoa và nghi ngút khói hương như dấu chỉ sự hiệp thông giữa kẻ sống – người chết. Thánh Lễ đồng tế trọng thể chiều nay thể hiện sự hiệp thông của Giáo hội lữ hành nơi trần thế và Giáo hội đang thanh luyện nơi luyện ngục cùng Giáo hội vinh thắng trên thiên quốc chuyển thông các công phúc cho nhau trong Mầu Nhiệm Giáo hội cùng thông công.

“Con người có tổ, có tông,
như cây có cội như sông có nguồn”

Người Việt Nam thường lấy chữ hiếu làm trọng, nhà có người qua đời được gọi là “nhà hiếu”. Chữ hiếu cũng đã được cha ông ta nâng lên thành đạo: Đạo Hiếu. Với đạo Công Giáo, Giáo Hội luôn nhắc các tín hữu hãy nhớ công sơn sinh thành dưỡng dục của tổ tiên: “Hỡi con, lệnh cha con truyền, hãy lo tuân giữ, lời mẹ con dạy, chớ bỏ ngoài tai.” (Cn 6,20), “Mỗi người trong các ngươi phải kính sợ cha mẹ.” (Lv 19,3), “Đáng nguyền rủa thay kẻ khinh dể cha mẹ!” (Đnl 27,16) và mạnh mẽ hơn “Bất cứ người nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Nó đã nguyền rủa cha mẹ, thì máu nó đổ xuống đầu nó.” (Lv 20,9).

Vì thế, Giáo Hội Công Giáo, đã dành trọn tháng 11 hằng năm là tháng cuối cùng trong niên lịch Phụng vụ, để cầu nguyện cho các linh hồn đồng thời để nhắc nhở chúng ta nhớ đến những ngày cuối cùng của thế giới và của mọi người chúng ta. Trong tháng này, nhiều hoạt động mang tính hiếu nghĩa được thực hiện như: xin lễ cầu cho ông bà tổ tiên, viếng nghĩa trang, chỉnh trang những ngôi mộ cho mới hơn ...

Khi thắp nén nhang, cây nến chắc hẳn lòng ta không khỏi bùi ngùi khi tưởng nhớ những người đã khuất. Đối với người đời, chết là hết, là trở về với cát bụi vì “… hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để  một mai tôi về làm cát bụi …”. Vâng, đời người như một cơn gió thoảng, mây bay "Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân” (Gv 1,2) nhưng từ chỗ phù vân ấy, người Công giáo “nhận ra rằng mọi sự Thiên Chúa làm sẽ tồn tại mãi mãi. Không có gì để thêm, chẳng có gì để bớt. Thiên Chúa đã hành động như thế để phàm nhân biết kính sợ Người” (Gv 3,14).

Qua giáo huấn của Giáo hội chúng ta đã được biết: có thiên đàng để thưởng người lành, có địa ngục để phạt kẻ dữ, và có luyện ngục để thanh tẩy các linh hồn còn vướng mắc các tội nhẹ chưa đền hết. Các linh hồn chính là những người trước đó đã từng sống kiếp làm người với những tội lỗi như chúng ta: tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những người thân …. Họ là những người đã ra đi trước chúng ta để trở về nơi mà họ đã được Thiên Chúa tạo dựng từ bụi đất. 

Khi cầu nguyện cho các linh hồn, chúng ta thể hiện lòng biết ơn, tinh thần hiệp thông, liên đới trong đức ái. Khi thực hiện mầu nhiệm tín  điều các thánh cùng thông công, có lẽ không gì quý hơn là chúng ta cầu nguyện cho họ, bởi vì họ chưa được về cùng Chúa, nên họ còn bị giam cầm trong luyện ngục để thanh luyện cho tinh ròng trước khi được diện kiến tôn nhan Chúa cách trọn vẹn.

Dòng người đổ về nghĩa trang mỗi lúc một đông hơn và từng tốp quây quần bên cạnh các ngôi mộ của người thân hướng về bàn thờ trên lễ đài. Thắp cây nến trên mộ phần người cha và người em đã ra đi trước tôi. Ánh sáng tỏa chiếu từ ngọn nến trước di ảnh cha và em tôi là ánh sáng của cây nến đức tin vào Thiên Chúa - đã được thắp từ cây nến Chúa Giêsu phục sinh - mà ngày xưa họ đã tiếp nhận ngày lãnh nhận Bí Tích rửa tội. Ánh sáng đó còn là lời cầu nguyện, lòng yêu mến biết ơn và tưởng nhớ. Ánh sáng đó còn nói lên lòng tin tưởng: tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.

Sự tin tưởng càng được rõ nét hơn trong bài giảng ứng khẩu của Đức Thánh Cha Phanxicô trong Thánh lễ ngoài trời tại nghĩa trang Verano của Roma ngày 1/11/2013: “Hôm nay chúng ta nhớ đến những anh chị em chúng ta đã sống trước chúng ta và bây giờ đang ở trên trời, họ ở đó vì họ đã được rửa sạch bằng máu Chúa Kitô. Đó là hy vọng của chúng ta, và niềm hy vọng này không làm chúng ta thất vọng. Nếu chúng ta sống cuộc sống của chúng ta cùng với Chúa, Người sẽ không bao giờ làm chúng ta thất vọng”.

Thánh lễ đã xong, hoàng hôn đang bàng bạc phủ xuống trên Thánh giá nơi lễ đài trung tâm nghĩa trang. Một số người như không muốn rời xa giây phút hiệp thông linh thiêng đã trở lại tụ tập cùng nhau bên mộ người thân của mình cất lên những lời kinh nguyện cuối trước khi trở về. Những lời kinh kết thúc râm ran: "Giêsu - Maria - Giuse con mến yêu, xin cứu rỗi các linh hồn"  hàm chứa tất cả các đẳng linh hồn trong luyện ngục cũng như hết tất cả các linh hồn trong Giáo Hội lữ hành nơi trần thế; các linh hồn tội lỗi cũng như các linh hồn vô tội, những người hấp hối, những kẻ vô thần ...

Trời nhá nhem tối, mọi người lục tục ra về khi những ngọn nến hình như sáng hơn trên mỗi ngôi mộ. Những ánh nến lung linh như những con mắt dõi theo từng bước chân của những người thân nhắc nhở sự hiệp thông trong lời cầu nguyện và chờ đợi gặp nhau trong ngày Phục Sinh sau hết như lời Chúa Giê-su đã phán: "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết" (Ga 11, 25-26)





Tháng các linh hồn 2013

Đã đăng trên:

Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2014

GIÁO DÂN TRUYỀN GIÁO



Chúa nhật Truyền Giáo 19-10-2014

Lúc còn là một cậu thiếu niên khi nghe đoạn Tin Mừng trong ngày lễ khánh nhật truyền giáo có câu "Hãy đi khắp cả thiên hạ rao giảng tin mừng cho mọi loài thụ tạo.” (Mc 16,15) và tiếng hát hân hoan, ca tụng:

Đẹp thay những bước chân gieo mầm cứu rỗi.
Đẹp thay những bước chân rảo khắp nẻo đời.
Ôi đẹp thay những bước chân tiến vào giữa lòng thế giới
Loan tình thương Chúa Trời, loan niềm vui cứu đời
Cho mọi người và mọi nơi.
                    (Đẹp thay – Mi Trầm – Thánh ca cộng đồng)

Lòng tôi lại rạo rực ước mơ được trở thành một tông đồ đi đến những miền đất xa lạ để rao giảng Tin Mừng cho những người, những dân tộc chưa biết Chúa. Những cảnh tượng đồng lúa mênh mông trĩu nặng những hạt lúa chín vàng không có người gặt hái khiến tôi ngây ngất tưởng tượng như mình là một người thợ gặt chính hiệu dù chưa bao giờ cầm tới một cái liềm, cái hái!

Dần dà tôi cảm nghiệm ra rằng truyền giáo không chỉ như Thánh Phanxicô Xaviê từng bôn ba nơi cuối trời góc biển nhưng còn là những lời kinh nguyện âm thầm trong nhà tu kín của Thánh nữ Têsêsa Hài đồng Giêsu. Ngoài ra còn biết bao hình thức truyền giáo khác nhau của hàng giáo sĩ và tu sĩ, là những người được huấn luyện đặc biệt có trường lớp để tiếp nối sứ mạng cứu thế của Đức Giêsu.  

Khi được học hỏi về Sắc lệnh Tông đồ giáo dân trong lớp Thường Huấn nâng cao đợt 1/2014 của Gia đình Phạt tạ Thánh Tâm Chúa Giêsu (GĐPTTTCG) Sài Gòn, tôi mới vỡ lẽ thêm rằng: giáo dân cũng có bổn phận và quyền làm tông đồ vì qua bí tích Thánh Tẩy, họ cũng được tham gia vào chức vụ Tư Tế, Ngôn Sứ và Vương Giả của Đức Kitô. Đức Kitô là Ðầu của họ và họ trở thành chi thể của nhiệm thể Người. Họ được chính Chúa chỉ định làm việc tông đồ. Việc tông đồ được thực thi nhờ đức tin, đức cậy, đức ái.

Để thực hiện tông đồ giáo dân, có hai phương pháp hoạt động là tông đồ tập thể và tông đồ cá nhân. Các hội đoàn Công Giáo Tiến Hành trong đó có GĐPTTTCG là phương pháp hoạt động tông đồ tập thể được Giáo hội khuyến khích vì nó có tổ chức qui củ sẽ đáp ứng hữu hiệu hơn cho nhu cầu của con người và tín hữu.

Để có thể nói về Chúa cho mọi người, người tông đồ giáo dân cần phải được huấn luyện: huấn luyện chung cho mọi tín hữu và những lớp huấn luyện chuyên biệt cho đoàn thể tông đồ có nhiều đoàn viên và hoàn cảnh khác nhau. Đồng thời tự thân họ cũng phải cố công học hỏi để hiểu sâu Lời Chúa và để biết cảm thông với những người mình gặp gỡ. Biết lắng nghe, đọc, chiêm ngắm, suy niệm và sống Lời Chúa mỗi ngày là điều kiện nòng cốt để có thể chu toàn sứ mệnh loan báo Tin Mừng cho tha nhân, bởi ta không thể cho ai điều mình không có.

Trong Tông huấn ”Niềm Vui Phúc Âm”, Đức Thánh Cha Phanxicô khẳng định rằng “với các việc làm và cử chỉ của mình, cộng đoàn rao giảng Tin Mừng cần bước vào cuộc sống thường ngày của người khác …”. Không cần thiết phải đi đến những nơi xa xôi, không cần có khả năng thuyết giáo với những lí lẽ mang tính thuyết phục …mỗi giáo dân trong cuộc sống thường ngày có thể làm việc tông đồ như men ủ trong bột ở ngay môi trường sống “theo mức độ Đức Ki-tô ban cho” (Ep 4,7). Người tông đồ giáo dân ý thức mình sẽ đóng nhiều vai trò vừa trong Giáo hội vừa nơi xã hội, nơi làm việc, gia đình của mình… Nơi nào họ cũng mong mình trở thành ánh sáng, là men, là muối cho trần gian. (x Mt 5,13-14)
 

Khi thực hiện đọc kinh Đền tạ Thánh Tâm Chúa Giêsu luân phiên tại các gia đình, các đoàn viên GĐPTTTCG đã đem Lời Chúa đến từng gia đình, khu xóm nơi gia đình mình sinh sống. Lời Chúa, câu kinh ta đọc cần phải được tỏa sáng bằng những việc làm thường ngày trong sinh hoạt cộng đồng. Để trở nên men Tin Mừng cho mọi người, người đoàn viên tông đồ giáo dân phải là người có cuộc sống mẫu mực, luôn vui vẻ chu toàn bổn phận, nói đi đôi với làm, dám quên mình vì ích chung, quảng đại góp phần vào những việc bác ái – xã hội chung trong khu xóm, trong giáo xứ. Vì người khác chỉ có thể bị thu hút bởi những người sống có uy tín đối với mọi người và biết cách làm cho điều tốt đi vào lòng người.

Khi chịu phép thanh tẩy, mỗi tín hữu đã mặc lấy chiếc áo trắng tinh tuyền, tức là đã mặc lấy Đức Kitô và đạo của Đức Kitô là đạo yêu thương. Muốn loan truyền Tin Mừng yêu thương cho tha nhân, mỗi người tông đồ giáo dân phải thực hiện việc bác ái ngay trong gia đình mình. Phải biết nói lời cám ơn, xin lỗi nhau như ĐTC Phanxicô đã nói: “Khi trong một gia đình người ta không xâm lấn nhau, nhưng biết xin phép. Khi trong một gia đình người ta không ích kỷ, nhưng tập nói tiếng cám ơn. Khi trong một gia đình người ta nhận ra mình đã làm điều xấu và biết xin lỗi, thì trong gia đình ấy có an bình và niềm vui”.

Xã hội nói chung và từng khu xóm hiện nay đều có những hoàn cảnh sống trái ngược nhau: kẻ lắm tiến nhiều của, người nghèo khó neo đơn ... Người tông đồ giáo dân cần bắt chước Đức Kitô khiêm hạ, chuyên lo làm đẹp lòng Thiên Chúa và yêu thương con người. Quan tâm đến mọi người sống chung quanh, không phân biệt giai cấp, tín ngưỡng trong tinh thần bác ái – xã hội. Khi thực thi bác ái cần phải nhận ra hình ảnh Thiên Chúa nơi tha nhân và bất cứ sự gì trao tặng cho người nghèo là đã thực sự được dâng cho chính Đức Kitô.

Lạy Chúa, xin cho ngày Chúa nhật Truyền Giáo đánh thức nơi mỗi kitô hữu sự đam mê và nhiệt huyết cần thiết để đem Tin Mừng cho toàn thế giới. Xin cho chúng con luôn ý thức về trách nhiệm truyền giáo của một Kitô hữu và hun đúc trong chúng con ơn gọi làm tông đồ, dù chúng con chỉ là những giáo dân bình thường. Xin cho lòng chúng con luôn rộng mở khi đóng góp vào công việc mở mang nước Chúa. Xin cho chúng con lắng nghe và thực thi Lời Chúa mỗi ngày để gia đình chúng con trở thành một “cộng đoàn cầu nguyện, sống tình yêu hợp nhất thủy chung, phục vụ sự sống và hăng say loan báo Tin mừng”.

Xin Chúa giúp chúng con trở nên những tia sáng, hạt muối, hạt men tốt: nhập thể nhiều hơn vào những lãnh vực trần thế để biến cải môi trường mình sống trở nên tốt đẹp hơn. Xin cho chúng con biết quan tâm sống tinh thần Tin Mừng là tinh thần yêu thương trong gia đình, trước khi loan báo cho người khác cùng sống theo. Xin giúp chúng con biết yêu thương tha nhân để quan tâm tới đau khổ và hạnh phúc của những người chung quanh. Xin thánh hóa để chúng con trở nên một chứng nhân Tin Mừng trong môi trường nhỏ bé chúng con đang sống, là môi trường nghề nghiệp, khu xóm, giáo xứ của chúng con, v.v… Amen.

Đã đăng trên Website:

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

Lần chuỗi Mân Côi trong giờ kinh đền tạ


Hầu hết người Công Giáo Việt Nam đều có lòng sùng kính Đức Mẹ và không nhiều thì ít đều đã đọc kinh Mân Côi. Lời kinh đơn sơ, dễ nhớ, dễ thuộc và có thể đọc một mình hay tập thể bất cứ khi nào, nơi nào. Trong 5 mẫu “Giờ kinh nguyện đền tạ Thánh Tâm Chúa Giêsu” của GĐPTTT CG VN  đều có suy niệm một mầu nhiệm và đọc 10 kinh Mân Côi.

Chính Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel trong ngày Truyền Tin đã khởi xướng kinh Mân Côi đầu tiên: Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Ðức Chúa Trời ở cùng Bà”, tiếp theo là lời chào mừng của  bà Elisabeth: Bà có phúc lạ, hơn mọi người nữ, và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ” và đến năm 1569, Thánh GH Piô V đã chính thức công nhận Kinh Mân Côi như hiện nay, sau khi thêm lời nguyện: “Thánh Maria Ðức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi này và trong giờ lâm tử. Amen.”

Sự hình thành chuỗi Mân Côi có một lịch sử lâu dài. Vào những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, các tu sĩ trong vùng sa mạc Ai Cập có thói quen dùng những hạt cây hay những hòn sỏi nhỏ để đếm số kinh đã đọc. Đến thời Trung Cổ, các tu sĩ có thói quen đọc 150 bài Thánh Vịnh (chia làm ba nhóm) mỗi ngày trong giờ Kinh Phụng vụ sáng, trưa và chiều tối. Nhưng sau đó được phép đọc 150 kinh Lạy Cha để thay thế. Để đếm các kinh ấy, người ta dùng những hạt gỗ xâu vào nhau nhờ một sợi dây và gọi đây là tràng hạt kinh Lạy Cha.

Tới thế kỷ thứ 7, với việc sùng kính Đức Mẹ, giáo dân bắt đầu phổ biến việc đọc 150 kinh Kính Mừng thay cho 150 kinh Lạy Cha và gọi các kinh này là "sách Thánh Vịnh của Đức Mẹ". Sau cùng các mầu nhiệm tương ứng với một sự kiện về cuộc đời Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria theo Tân Ước đã được thêm vào trước mỗi chục kinh Kính Mừng.

Một bộ mười kinh Mân Côi gồm một "mầu nhiệm" (suy niệm) bắt đầu là một kinh Lạy Cha do chính Chúa Giêsu phán dậy để nhắc nhở chúng ta cầu xin cùng Đức Chúa Cha là người đã khởi xướng ơn cứu chuộc, sau đó là mười kinh Kính Mừng giúp chúng ta cùng với Mẹ Maria suy niệm về mầu nhiệm này và kết thúc bằng một kinh Sáng Danh vinh danh Thiên Chúa Ba Ngôi cùng đích của mọi sự sống.

Đến thế kỷ 20, theo lời dạy của Đức Mẹ Fatima lời nguyện “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội chúng con, xin cứu chúng con khỏi sa hoả ngục, xin đem các linh hồn lên Thiên Đàng, nhất là những linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn” được đưa vào sau mỗi chục kinh Mân Côi.

Các mầu nhiệm được chia theo 50 kinh (thường gọi là mùa). Vui trong mầu nhiệm Nhập Thể, Đức Giêsu xuống thế làm người sống cho mọi người. Thương trong mầu nhiệm Tử Nạn, Đức Giêsu chịu chết chuộc tội cho cả nhân loại. Mừng trong mầu nhiệm Phục Sinh, Đức Giêsu bước vào vinh quang mở ra tương lai cho mọi sinh linh. Mùa Sáng hay mầu nhiệm sự Sáng có từ năm 2002 dưới thời Thánh GH Gioan Phaolô II, dành để suy niệm cuộc đời Chúa Giêsu khi ra đi giảng đạo từ lúc chịu phép rửa trên sông Jordan tới khi lập phép bí tích Thánh Thể.

Khi lần chuỗi Mân Côi, nếu miệng đọc các kinh Kính Mừng còn tâm trí chiêm ngắm và suy niệm mỗi biến cố quan trọng trong cuộc đời Đức Giêsu và Mẹ Maria thì chúng ta đã lần chuỗi với tinh thần của Tin Mừng, cũng chính là tâm tình của Đức Maria: “Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.” (Lc 2,19). Đó là biết lắng nghe, suy niệm và thi hành Lời Chúa qua sự nhìn ngắm, tôn thờ, chiêm ngưỡng, suy niệm những mầu nhiệm của Chúa Giêsu và thì thầm những lời ca ngợi, những câu nài xin với Đấng đã ban cho chúng ta Đấng Cứu Thế.

Trong các giờ kinh đền tạ của GĐPTTT CG luân phiên trong các gia đình nhằm đền tội cho chính mình hoặc cho những người thờ ơ, vô ơn bội bạc không biết hay không màng đến tình yêu của Trái Tim Chúa. Chúng ta thường “…cậy vì lời Ðức Nữ Ðồng Trinh Maria, đã đồng công chuộc tội cầu bầu, xin Chúa nhận lễ đền tội chúng con thật lòng kính dâng mà tạ Chúa, cùng xin ban cho chúng con được ơn bền đỗ, giữ lòng trung tín lo việc bổn phận làm tôi Chúa cho đến trọn đời…”

Ước mong sao trong tháng 10 hằng năm, tháng Mân Côi, các đoàn viên GĐPTTT CG hãy dành thêm ít thời gian trong các giờ kinh đền tạ để suy niệm 20 mầu nhiệm (bốn mùa) luân phiên và đọc 50 kinh Kính Mừng thay vì 10 kinh như thường lệ để nhờ Trái Tim Đức Mẹ chuyển cầu ý nguyện đến tạ Thánh Tâm Chúa. Chắc chắn Đức Mẹ sẽ nhận lời nài xin của chúng ta vì “…xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Đức Mẹ, xin bầu chữa cứu giúp mà Đức Mẹ từ bỏ chẳng nhận lời…”
Chân Phước Têrêsa Calcutta

Tháng Mân Côi 2014

Đã đăng trên website:

Thứ Bảy, 27 tháng 9, 2014

Cỗ tràng hạt Mân Côi

Tháng 10 lại trở về với tín hữu Việt Nam với tên gọi quen thuộc là tháng Mân Côi vì trong tháng có lễ Đức Mẹ Mân Côi và từ lâu đời lòng sùng kính Mẹ Maria với chuỗi Mân Côi đã gắn bó với người Công Giáo Việt Nam. Chữ “Mân Côi” có nghĩa là “Hoa Hồng”, do tích truyện một thầy tu khi đọc kinh Kinh Mừng một cách sốt sắng trên môi đã nở những nụ hồng và Đức Mẹ đã lấy những nụ hoa hồng trên môi của thầy tu ấy kết thành vòng hoa đội lên đầu mình.
Trong đám đông tín hữu ra về sau Thánh lễ chiều Chúa nhật, tôi đã bắt gặp một vài bạn trẻ với chuỗi hạt Mân Côi khá to choàng trước ngực như một vật trang sức. Một chút bâng khuâng, suy tư chợt đến làm tôi bồi hồi nhớ lại cách đây vài chục năm khi còn là một cậu bé. Thuở ấy, chuỗi Mân Côi được gọi một cách trang trọng là “cỗ tràng hạt”.

Cỗ tràng hạt từ lâu đã gắn liền với cuộc đời những người Công Giáo Việt Nam. Khi tôi biết đọc ê a cuốn “Bổn đồng ấu” thì bà tôi đã già lắm với chiếc lưng còng xuống như chất chứa cả cuộc đời lam lũ. Hình ảnh bà tôi với cỗ tràng hạt trên tay và miệng thầm thì lời kinh Kính Mừng đã đưa anh em chúng tôi vào những giấc ngủ trưa hòa với tiếng võng kẽo kẹt như một khúc ru trộn lẫn cung bậc Tây phương và ngũ âm Việt.

Khi nhắm mắt xuôi tay, bà tôi vẫn không rời cỗ tràng hạt thân yêu gắn bó suốt mấy chục năm trời. Người ta đã trân trọng đặt vào đôi tay nắm chặt trên ngực bà cỗ tràng hạt mà tượng Thánh giá được đặt ngay trên trái tim đã vĩnh viễn ngừng đâp. Có lẽ nhiều người Công giáo khi qua đời cũng được người ta tẩn liệm như thế và phải chăng đó là chìa khóa mở cửa nước Trời cho những tín hữu luôn hằng ngày lần hạt với những lời kinh Mân Côi đơn sơ?


Rồi ngày lãnh nhận bí tích Thánh Thể lần đầu, tôi và các bạn đồng trang lứa cũng được nhận một cỗ tràng hạt “dạ quang” mà ngày ấy chúng tôi hằng mơ ước. Chúng tôi say mê ngắm nghía, bụm cỗ tràng hạt trong lòng bàn tay khép kín và ghé mắt vào để thấy từng hạt ánh lên ánh sáng diệu kỳ. Từ đó, mỗi chiều đọc kinh lần hạt tập thể với cỗ tràng hạt trên tay đã làm chúng tôi hãnh diện vì một lẽ đơn giản là được giống như cha mẹ, ông bà…

Rồi tuổi thơ dần dần qua đi, cỗ tràng hạt dần dần mất đi sức phát sáng theo thời gian. Đến lúc lớn khôn, đi học xa nhà, rồi bước vào đời với cuộc mưu sinh hối hả đã làm chúng tôi không còn nhớ mình đã để quên cỗ tràng hạt thuở nhỏ nơi nào!

Khi gia nhập GĐPTTTCG, được tham gia các giờ kinh đền tạ; tôi mới có lại được cái cảm giác trở lại tuổi thơ ngày ấy. Được đắm chìm trong lời kinh, được thanh thản tâm hồn qua những lời huấn đức của Cha Linh hướng, qua những chia sẻ của anh chị em đoàn viên. Được Vui trong mầu nhiệm Nhập Thể: Đức Giêsu xuống thế làm người sống cho mọi người. Thương trong mầu nhiệm Tử Nạn: Đức Giêsu chịu chết chuộc tội cho cả nhân loại. Mừng trong mầu nhiệm Phục Sinh: Đức Giêsu bước vào vinh quang mở ra tương lai tươi sáng cho mọi sinh linh. Sáng với cuộc đời Chúa Giêsu khi ra đi giảng đạo từ lúc chịu phép rửa trên sông Jordan tới khi lập phép bí tích Thánh Thể.

Chuỗi Mân Côi đã làm lòng tôi lắng xuống, thanh thản bình an để chiêm niệm lòng yêu thương của Thánh Tâm Chúa Giêsu và đôi môi thì thầm những lời ca ngợi, những câu nài xin với Đức Mẹ.

Lạy Mẹ Maria, xưa Mẹ đã phó thác cuộc đời cho Chúa với Đức tin mãnh liệt qua hai tiếng xin vâng để đồng công hoàn thành công trình cứu chuộc của Thiên Chúa. Xin cho chúng con được đi theo hành trình Đức tin của Mẹ với lòng tin tưởng phó thác nơi Mẹ như những người con ngoan thảo, để qua Mẹ chúng con được đến gần hơn với Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Lạy Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi, xin Mẹ ban cho chúng con biết siêng năng đọc Kinh Mân Côi hằng ngày. Xin giúp chúng con biết suy niệm các mầu nhiệm của kinh Mân Côi như một bản tóm lược Tin Mừng. Biết lắng nghe, suy niệm và thực hành Lời Chúa mỗi ngày trong đời sống chúng con. Amen.

Đã đăng trên website:
Nội san Lửa Mến số tháng 10/2013

Thứ Bảy, 13 tháng 9, 2014

Thập giá đời và Thánh giá phúc


Thập giá ngất cao ở trên thế gian này
Ôi hỡi thập giá chúa Giêsu.
Từ nơi Thánh Tâm yêu thương Ngài
Sông ơn thiêng khơi nguồn chan hòa
Qua ngươi máu cứu độ chảy xuống nơi đây
Ôi hỡi thập giá Chúa Kitô.
(LM. Hoàng Kim – Họp mừng Vượt qua)

Thập giá - là cách nói tắt chữ thập tự giá - là một dụng cụ hành hình tàn nhẫn thời đế quốc La Mã. Thông thường dùng để xử tử những người phản nghịch, dị giáo, nô lệ và những người không có quyền công dân của đế quốc Roma. Trong văn học phương Tây, thập giá tượng trưng cho sự đau khổ. Biểu tượng của cây thập giá đối với những người không có niềm tin vào Đức Giêsu Kitô là một biểu tượng của sự chết, là sự ô nhục, điên rồ và ngu xuẩn: “Trong khi người Do-thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ.” (1 Cor 1,22-23). Thập giá, trong suy nghĩ của người trần mắt thịt là những khổ đau bất hạnh. Chính Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu cũng đã phải đổ mồ hôi máu khi nghĩ đến việc phải vác thập giá nên đã xin Chúa Cha : “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con.(Lc 22, 42a).

Cây thập giá được Chúa Giêsu chọn để làm nơi phó dâng linh hồn trong tay Chúa Cha đã trở nên một báu vật của nhân loại và được gọi là Thánh giá sau khi Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết và lên trời vinh hiển. Thiên Chúa đã thánh hóa cây thâp tự: từ một dụng cụ độc ác tàn nhẫn của con người thành công cụ của tình yêu thương, tha thứ. Từ biểu tượng của sự chết đã trở thành biểu tượng giải thoát con người khỏi phải án chết đời đời. Từ sự ô nhục, điên rồ và ngu xuẩn trở nên chiến thắng vinh quang của Đức Kitô. Đối với những người có niềm tin vào Đức Giêsu Kitô thì cây thập giá đã trở thành cây Thánh giá và là biểu tượng của Đức tin. Khi dâng Thánh lễ, trên bàn thờ phải có cây Thánh giá. Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma năm 2000 đã quy định: trên hoặc gần bàn thờ, kể cả ngoài Thánh lễ, thường xuyên phải có một Thánh giá, có tượng Đức Kitô chịu đóng đinh, mà cộng đoàn có thể nhìn thấy rõ ràng, để nhắc tín hữu cuộc thương khó cứu độ của Chúa.

Người Kitô hữu luôn kính mến và tôn xưng cây thập giá đồng hành với Chúa Giêsu trên đường lên núi Sọ là Thánh giá. Chúng ta thường đọc trước mỗi chặng đàng Thánh giá: “Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô, vì Chúa đã dùng Thánh giá mà chuộc tội cho thiên hạ”, thường làm dấu Thánh giá trước khi cầu nguyện, dùng bữa … Chúng ta thực sự hãnh diện, vui mừng vì Thánh giá vinh quang của Chúa Giêsu trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa:

Vinh quang của ta
Là Thánh giá Đức Kitô
Nơi Ngài, ơn cứu độ của ta
Sức sống của ta
Phục sinh của ta
Nhờ Chúa ta được cứu độ
Nhờ Chúa ta được giải thoát.

Mỗi đoàn viên GĐPTTTCG chúng ta ai cũng có, cũng phải vác thập giá vì Chúa Giêsu đã nói:Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.” (Lc  14,27). Con người khi gặp phải những đau khổ, những gánh nặng trong đời sống như vợ chồng bất hòa, con cái không vâng lời cha mẹ, thất nghiệp, đau ốm, bịnh tật... thường hay than thân trách phận, u sầu, tuyệt vọng thậm chí đi tìm tới cái chết! Con người ngày nay ai cũng muốn được tự do, muốn được hưởng thụ nên luôn ngại hy sinh, gian khổ, cho nên khó lòng đón nhận thập giá. Thập giá tuợng trưng cho sự vất vả, hy sinh gian khổ, gánh nặng đau thương, sự hiểu lầm bất công, sức nặng của tội lỗi, giới hạn của thân phận con người... Lẽ tự nhiên ai cũng tìm cách tránh né. Những lúc đó con người ít khi nhớ đến người đã từng hoàn tất việc mang vác thập giá trong sự đau đớn tủi nhục ê chề để đi đến vinh quang bất tử, một bậc “sư” của sự vâng phục tuyệt đối, đó chính là Chúa Giêsu Kitô con Thiên Chúa.

Chúng ta tin Chúa nhưng chưa chắc đã theo Chúa, vì chưa can đảm nhận lãnh những thập giá Chúa trao hằng ngày. Khi cuộc sống ta êm đềm, an vui, thành đạt ta khuyên bảo người khác đang chịu đau khổ, bệnh nạn…: “Hãy chịu khó bằng lòng vác Thánh giá Chúa trao!” một cách “ngon lành”. Nhưng khi thấy bóng dáng thập giá đến với mình thì tìm cách thoái thác, lẩn tránh trách nhiệm, đẩy qua cho người khác. Đổ lỗi cho người khác khi mình thất bại, chỉ trích khi người khác thành công và dè bỉu, kéo phe nhóm để đả kích những người bất đồng chính kiến! Thực tế nghe sao chua chát và “đắng lòng” nhưng vẫn xảy ra thường  ngày trong đời sống xã hội! Làm sao ta có thể sống và nói được một cách tích cực như thánh Phaolô khi ngài viết cho tín hữu Côlôsê: “Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh.(Cl 1, 24).

Vậy chúng ta hãy chạy đến với Chúa Giêsu vì chính Ngài là nguồn sức mạnh duy nhất có thể nâng đỡ và thêm sức cho chúng ta vác thập giá: "Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt. 1,28). Xin Ngài ngự trị và cùng vác thập giá với ta hàng ngày. Nếu chúng ta mang vác những gánh nặng, những trách nhiệm, những lo toan hàng ngày một mình thì chúng ta sẽ cảm thấy sức nặng trì trệ của cây thập giá đời mình và phải gồng mình kéo lê từng bước nặng nhọc. Còn nếu chúng ta biết chạy đến với Chúa Giêsu, xin Ngài đồng hành với chúng ta thì những cây thập giá đời nặng nề sẽ biến thành những cây Thánh giá phúc nhẹ tênh bởi vì có Chúa ở với ta và Ngài luôn chúc phúc cho “mỗi kinh, mỗi việc” chúng ta làm vì danh Ngài.

Lễ Suy tôn Thánh giá 14/09/2014

Đã đăng trên:

Chủ Nhật, 7 tháng 9, 2014

Tản mạn dưới trăng thu

Tết Trung Thu tại Việt Nam không biết có tự bao giờ, không có sử liệu nào nói rõ về gốc tích của ngày lễ rằm tháng Tám âm lịch và cũng có nhiều ý kiến về nguồn gốc của nó. Theo các nhà khảo cổ học thì Tết Trung Thu (còn được gọi là Tết trông Trăng hay Tết Đoàn Viên) ở Việt Nam có từ thời xa xưa, đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Có lẽ Tết Trung thu được bắt đầu từ nền văn minh lúa nước của đồng bằng đồng bằng châu thổ sông Hồng của Việt Nam và Nam Trung Hoa. Việt Nam là một nước nông nghiệp nên nhân lúc tháng Tám gieo trồng đã xong, thời tiết dịu đi, là lúc “muôn vật thảnh thơi”, người ta mở hội cầu mùa, ca hát vui chơi Tết Trung Thu.

Các năm gần đây, do thời tiết địa cầu biến đổi và miền Nam “hai mùa mưa – nắng”, nên thiếu nhi thường phải vui Tết Trung Thu trong nhà vì những cơn mưa ập xuống bất chợt. Nhưng ở miền Bắc trước kia, rằm tháng 8 là thời kỳ thời tiết đẹp nhất, trời trong xanh, gió hiu hiu thổi, không khí mát mẻ, mặt trăng tròn đầy sáng vằng vặc, có thể đọc sách được. Trẻ con trông trăng để bay bổng cùng chị Hằng Nga, cây đa, chú Cuội, mong đợi được ba mẹ tặng đồ chơi, thường là lồng đèn ông sao, con tôm, con cá ... rồi bánh nướng, bánh dẻo.

Dưới ánh trăng các em nhỏ rủ nhau xếp thành từng hàng, rồng rắn nhau rước đèn, múa sư tử. Thời điểm trăng lên cao, trẻ em sẽ tụ nhau lại vừa ngắm trăng vừa phá cỗ. Người lớn thì tổ chức bày cỗ, trông trăng kiếm tìm hy vọng cơm áo năm sau. Bằng kinh nghiệm dõi theo chu kỳ của tạo hóa, người xưa đoán định mùa vụ qua ánh trăng đêm Trung Thu: trăng màu vàng trúng mùa tằm tơ, trăng xanh lục báo hiệu thiên tai, trăng màu cam đất nước thái bình thịnh trị hay “trăng quầng trời hạn, trăng tán trời mưa”…

Theo trình thuật của sách Sáng Thế, mặt trăng là hành tinh do Thiên Chúa tạo dựng trên nền trời vào ngày sáng tạo trời đất thứ tư, để chiếu soi ánh sáng vào ban đêm. “Thiên Chúa làm ra hai vầng sáng lớn: vầng sáng lớn hơn để điều khiển ngày, vầng sáng nhỏ hơn để điều khiển đêm; Người cũng làm ra các ngôi sao.” (St 1,15). Mặt trời và mặt trăng là hai hành tinh do Thiên Chúa tạo thành ngay từ thuở sáng tạo vũ trụ trời đất. Cả hai có hình thể to lớn khác nhau và vị trí làm việc cũng như hoạt động không giống nhau: mặt trời rực lửa chiếu ánh sáng ban ngày và mặt trăng thanh thoát tỏa sáng ban đêm.

Từ xa xưa, ở Á Đông người ta đã coi trọng mặt trăng và mặt trời, coi như một cặp vợ chồng. Họ quan niệm mặt trăng chỉ sum họp với mặt trời mỗi tháng một lần vào cuối tuần trăng. Sau đó, từ ánh sáng của chồng, nàng trăng mãn nguyện đi ra và dần dần nhận được ánh dương quang - trở thành trăng non, trăng khuyết, trăng tròn, để rồi lại đi sang một chu kỳ mới. Do vậy, trăng là âm tính, chỉ về nữ và đời sống vợ chồng. Ở Châu Âu, thần mặt trăng “Artemis“ trong thần thoại Hy-lạp và “Lucina“ trong thần thoại Rô-ma là quan thầy bổn mạng của sinh sản, đồng thời cũng là nữ thần của các trinh nữ.

Trong Kinh thánh, lối suy diễn này được quy chiếu nơi Ðức Mẹ Maria: là người mẹ sinh con nhưng vẫn còn đồng trinh. Ðức Mẹ Maria được vẽ hay chạm khắc đứng trên vầng trăng hình lưỡi liềm nói lên sức mạnh do Thiên Chúa tạo dựng làm nên cùng chiếu tỏa một đời sống mới trọn vẹn tràn đầy. Vì thế, mặt trăng được đặt dưới chân Đức Mẹ Maria như trong sách Khải Huyền của Thánh Gioan diễn tả: “Có một điềm lớn xuất hiện trên trời : một Phụ nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp vầng trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12,1). Sách Diễm ca cũng đã ca tụng vẻ đẹp của Mẹ lộng lẫy như mặt trời và diễm lệ như vầng trăng sáng trong đêm tối: “Kìa bà nào xuất hiện như rạng đông, diễm kiều như vầng nguyệt, lộng lẫy tựa thái dương, oai hùng như đạo binh chỉnh tề hàng ngũ.” (Dc 6,10).

Thật là một sự trùng hợp tuyệt vời khi người Việt Nam và người Trung Hoa tổ chức lễ Trung thu vào ngày rằm tháng Tám âm lịch để ca ngợi vẻ đẹp của vầng trăng, thì người Công giáo cũng mừng kính lễ Sinh nhật Đức Trinh nữ Maria. Ngay trong ca nhập lễ, Giáo hội đã mời gọi: “chúng ta hãy hân hoan với tất cả tâm hồn, mừng kính việc sinh ra của Đức Trinh Nữ Maria, từ nơi Người đã xuất hiện Mặt Trời Công Chính là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”. Câu xướng trước Phúc Âm cũng ca tụng: “Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, Mẹ diễm phúc, Mẹ xứng đáng mọi lời ca tụng; vì từ nơi Mẹ đã xuất hiện Mặt Trời Công Chính là Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta!”.

Mặt Trời Công Chính trong cung lòng Mẹ là Ánh Sáng thật, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, tức là phản ánh hình ảnh của Chúa Cha là cội nguồn ánh sáng. Ánh sáng Chân Lý đó được Mẹ Maria là một thụ tạo hoàn hảo của Thiên Chúa đón nhận để rồi Mẹ thông truyền cho thế gian. Vì thế Mẹ đã được ví như một vầng trăng thanh với ánh sáng dịu dàng, thanh thoát nối tiếp mặt trời chiếu sáng ban đêm. Có thể nói: Chúa Giêsu càng tỏ hiện ra, vai trò của Đức Mẹ càng mờ nhạt đi. Ánh sáng Mặt Trời của Chúa Giêsu Kitô càng chiếu tỏ hiện, Vầng Trăng Maria Mẹ Thiên Chúa càng lùi vào bên trong, biến dần sang vầng trăng khuyết lưỡi liềm.

Dưới vầng trăng thu tỏa sáng ánh quang huyền ảo của Mẹ Maria, chúng ta cùng cầu xin Chúa ban phúc lành cho con em chúng ta và trẻ em toàn thế giới như lời Chúa trong Thánh lễ tết Trung Thu: "Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng.” (Mc 10,14). Xin Chúa ban cho các em luôn biết tin tưởng phó thác, vâng lời, đơn sơ và thật thà như con trẻ Giêsu trong gia đình Nazareth xưa.

Xin Chúa ban cho chúng ta cũng học được những đức tính đáng yêu giống như con trẻ để được cùng vào Nước Thiên Chúa và được hưởng những đêm trăng thu huyền nhiệm cùng Mẹ Maria, Thánh Giuse và các Thánh là những Đấng đã luôn sống đẹp lòng Chúa. Xin cho chúng ta luôn biết chung tay xây dựng gia đình thành một công đoàn cầu nguyện, sống tình yêu chung thủy và bảo vệ sự sống đồng thời góp phần vào việc loan báo Tin Mừng của Chúa cho mọi người chúng ta gặp gỡ hàng ngày trong năm Tân Phúc âm hóa Gia đình.

Mùa Trung thu Giáp Ngọ 2014

Đã đăng trên các website:

Thứ Hai, 1 tháng 9, 2014

Tin: Lớp Thường Huấn nâng cao đợt 1/2014 của GĐPTTTCG Sài Gòn


Lúc 08 giờ 30 ngày 30 ngày Thứ Bảy 30/ 08/ 2014, tại Hội trường Giáo xứ Chí Hòa, số 149 Bành Văn Trân P.7, Quận Tân Bình,  Ban chấp hành Gia Đình Phạt Tạ Thánh Tâm Chúa Giêsu TGP/TP.HCM (GĐPTTTCG TGP/TP.HCM ) đã khai giảng lớp thường huấn nâng cao đợt 1 năm 2014 dành cho các học viên thuộc khu vực I.

Đây là chương trình thường huấn nhằm bồi dưỡng cho các thành viên Ban chấp hành các cấp nâng cao kiến thức chuyên sâu về vai trò trách nhiệm của người tông đồ giáo dân. Góp phần đưa sinh hoạt của đoàn thể đi vào nề nếp,  đóng góp thiết thực và hiệu quả vào các sinh hoạt của Giáo hội địa phương.

Được biết chương trình thường huấn gồm 03 đợt, đợt 01 được tổ chức tại 3 khu vực:

 - Khu vực I: Dành cho thành viên Ban chấp hành các cấp thuộc các Giáo hạt: Chí Hòa, Hóc Môn, Phú Thọ, Tân Sơn Nhì. Tổ chức ngày Thứ Bảy 30/ 08/ 2014, tại Hội trường Giáo xứ Chí Hòa, số 149 Bành Văn Trân P.7, Quận Tân Bình,

- Khu vực II: Dành cho thành viên Ban chấp hành các cấp thuộc các Giáo hạt: Gia Định, Gò Vấp, Thủ Đức, Xóm Mới. Tổ chức  ngày Thứ Bảy 06/ 09/ 2014, tại Hội trường Giáo xứ Thanh Đa, số 801/67 Xô Viết Nghệ Tĩnh, P.26, Quận Bình Thạnh,

 - Khu vực III: Dành cho thành viên Ban chấp hành các cấp thuộc các Giáo hạt: Bình An, Sài Gòn Chợ Quán, Thủ Thiêm, Tân Định, Xóm Chiếu. Tổ chức ngày Thứ Bảy 13/ 09/ 2014, tại Hội trường Giáo xứ Bùi Phát, số 453/105KC Lê Văn Sỹ, P.12, Quận 3.


208 học viên (hv) khu vực I thuộc các Giáo hạt: Hóc Môn (72 hv), Tân Sơn Nhì (52 hv), Chí Hòa (51 hv) và Phú Thọ (33 hv) đã được hướng dẫn và thảo luận về:

-          Đề tài 1: “Xây dựng tinh thần hoạt động Tông đồ nơi thành viên Ban chấp hành Gia Đình  Phạt Tạ Thánh Tâm Chúa Giêsu” – (Cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Hồng, Tổng linh hướng GĐPTTTCG giảng huấn)

-          Đề tài 2: Giới thiệu chương 1 & 2 Sắc lệnh Tông đồ giáo dân (Ô. Đaminh Phan Văn Hùng, phó Trưởng ban ngoại vụ GĐPTTTCG/TGP) và thảo luận qua các câu hỏi gợi ý.

-          Đề tài 3: Sống và thực hành Lời Chúa: “ Các ông cũng thế, hãy vào làm vườn nho cho Ta” (Mt 20, 3-4) và học hỏi chương 1 & 2 Tông huấn “Ơn gọi và sứ mệnh người tín hữu giáo dân” (Cha Đaminh Đinh Văn Vãng, linh hướng GĐPTTTCG Giáo hạt Chí Hòa giảng huấn)

Kết thúc lớp hường huấn nâng cao đợt 1/2014 khu vực I, các học viên đã cùng nhau suy tôn Thánh Thể với chủ đề “Thánh Thể và ơn gọi phục vụ” tại Thánh đướng Giáo xứ Chí Hòa để tạ ơn Thánh Tâm Chúa Giêsu đã ban cho buổi thường huấn thành công tốt đẹp.

Xem thêm hình ảnh tại:

Đã đăng trên các website: