Thứ Tư, 9 tháng 9, 2015

MỪNG SINH NHẬT MẸ


Chín tháng sau lễ Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội, với tiết trời mát mẻ êm dịu, với bầu trời tươi sáng của mùa thu. Giáo hội mừng lễ Sinh nhật Đức Mẹ, nên có người còn ví von đây là "lễ Noel mùa Thu”.

Phụng vụ ngày hôm nay cho chúng ta thấy Đức Maria “đã mang đến nguồn hy vọng và bình minh ơn Cứu độ cho trần thế”. Sinh nhật Mẹ báo trước hừng đông của Mặt Trời công chính, là Đức Giêsu Kitô đem đến cho toàn thể loài người ơn Cứu độ.

Mừng kính sinh nhật Đức Mẹ, chúng ta hãy cùng Giáo hội hoàn vũ: “vui mừng cử hành lễ sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria, vì từ nơi Người đã xuất hiện Mặt Trời Công Chính, là Đức Kitô, Thiên Chúa chúng ta“. (Ca nhập lễ)

Từ ngày ông bà nguyên tổ Adam và Eva sa ngã, ăn trái cấm do sự xúi giục của ma quỉ, phản bội lại tình thương cao vời, tuyệt đối của Thiên Chúa. Loài người đã phải ngậm ngùi rời xa vườn địa đàng và lầm lũi đi trong bóng tối sự chết.

Tuy nhiên tình thương của Thiên Chúa vẫn kiên vững và vượt trên mọi sự. Ngài lại tiếp tục tô điểm lịch sử cứu độ bằng cách chọn lựa một người nữ có tên là Maria.

Maria, Eva mới là niềm hy vọng cậy trông cho trần gian đang sa lầy trong tăm tối. Từ nay những tiếng tung hô Ave sẽ thay thế cái tên Eva trong lịch sử cứu độ nhân loại. Lịch sử nhân loại đã hồi sinh, trở nên tinh tuyền sau thời gian dài bị trừng phạt do tội phản nghịch, bất tuân của ông bà nguyên tổ. Hai tiếng “xin vâng” của Maria đã làm cho sự sống của nhân loại bất toàn trong sự chết trở nên viên mãn.

Được sinh ra, cùng đồng hành với con người trong trần gian đầy dấu tích của tội lỗi nên Mẹ rất cảm thông, chia sẻ và là nơi nương tựa của những người con trần gian yếu hèn, tội lỗi. Mừng sinh nhật Mẹ là dịp tốt nhất để cảm ơn Mẹ đã có mặt trong từng cuộc đời chúng ta. Cám ơn Mẹ đã nhận chúng ta là con của Mẹ để tình Mẹ luôn dõi bước ta trong cuộc lữ hành trần thế.

Nhưng lễ sinh nhật Đức Maria không được Kitô hữu chúng ta lưu ý đúng mức vì những tất bật, lo toan trong cuộc sống. Nhiều người đã để lễ ấy vô tình qua đi hoặc thậm chí không hề hay biết có ngày lễ sinh nhật như thế. Có lẽ vì nó được xếp vào phụng vụ của một tuần lễ thường, hoặc không phải là một bậc lễ trọng!

Trong tâm tình tạ ơn và hối lỗi, chúng ta hãy dành chút thời gian để hiệp dâng Thánh lễ mừng sinh nhật người Mẹ Thánh. Chuẩn bị cho sinh nhật của Chúa Giêsu, Đấng Cứu độ trần gian. Hơn hai ngàn năm qua, Mẹ vẫn chờ đợi chúng ta đến dự tiệc Thánh mừng sinh nhật Mẹ, vẫn chờ đợi chúng ta cùng thổi nến và cắt bánh sinh nhật với Mẹ.

Lạy Mẹ Maria, mẹ là món quà quý giá nhất, là tuyệt tác tình yêu mà Thiên Chúa đã tặng ban cho chúng con. Mẹ là người quan trọng nhất trong cuộc đời, là người cầu bầu, che chở cho chúng con trong những lúc lầm lỡ, là người ủi an trong những lúc u sầu ….

Lòng Mẹ bao la tình thương như sóng biển Thái Bình ôm ấp vỗ về khi con lầm đường lạc lối. Không  có Mẹ, “giữa nơi lưu đầy ngày gian nan con biết thở than với ai?” Không có mẹ hộ phù con đâu “lớn nổi thành người” Kitô hữu, vì Mẹ là Sao Mai, Sao Biển dẫn lối cho chúng con.

“Chúc Mừng Sinh Nhật Mẹ – Happy Birthday to You”. Chúc mừng tuổi Mẹ! Chúc mừng người phụ nữ xinh đẹp tuyệt trần, trẻ trung mãi mãi và đầy ân sủng để chia sẻ cho chúng con phúc lộc của trời cao.

Mừng sinh nhật Mẹ, chúng con cùng quây quần bên Mẹ chia sẻ tấm bánh hằng sống là Đức Giêsu Kitô. Khi thổi tắt các ngọn nến cắm trên tấm bánh sinh nhật, xin Mẹ lại thắp sáng ngọn nến Đức Tin trong tâm hồn mỗi người chúng con bằng tình yêu phó thác, khiêm nhu và tinh tuyền của Mẹ.

Xin dâng Mẹ những lời kinh Mân Côi như 1001 hoa hồng tươi thắm với lời nguyện ước Mẹ - con được mãi mãi bên nhau trong cõi thiên thu bất diệt. Và “xin cho chúng con cũng tìm được niềm vui trong ngày mừng sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria. Chính Người đã đem đến cho nhân loại niềm hy vọng và ơn cứu độ là Đức Giêsu Kitô, Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen“.

Đã đăng trên:                              
Nội san Lửa Mến tháng 9/2015
http://gdpttthathocmon.org/?p=5504#more-5504
http://www.thanhlinh.net/node/93456

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

LO MÙA KHAI TRƯỜNG

Ở Việt Nam, năm nào cũng thế, cứ sắp vào đầu năm học mới. Khi các em học sinh háo hức với niềm vui được cắp sách đến trường gặp lại bạn bè, thầy cô. Nhiều bậc phụ huynh lại không giấu được sự lo lắng, đứng ngồi không yên bởi chưa biết lấy đâu ra tiền để sắm sửa quần áo, sách vở, dụng cụ học tập và nhiều khoản đóng góp đầu năm cho con em mình.
Đối với các gia đình khá giả, khoản tiền này có thể “nhỏ như con thỏ” nhưng lại là vấn đề làm đau đầu những phụ huynh có thu nhập thấp, nhất là ở khu vực nông thôn. Hằng ngày, họ phải đầu tắt mặt tối mới tạm đủ sống, tiền kiếm được thì quá ít, trong khi bảng kê các khoản chi phí thì lại quá nhiều...
Thật ra thì nỗi lo không chỉ xuất hiện trong mùa tựu trường, lễ tết …. Cuộc sống của con người kể từ ngày bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng là một chuỗi dài những lo lắng. Bất kỳ lứa tuổi nào, nơi nào, thời điểm nào, chúng ta cũng có những nỗi lo lắng riêng của mình. Vậy chúng ta sẽ phản ứng ra sao, chúng ta sẽ thích nghi thế nào khi phải đối diện với những lo lắng ấy?
Trong bài giảng trên núi, Chúa Giê-su cũng đề cập đến sự lo lắng và đưa ra những lời giáo huấn chí tình. Một trong số những giáo huấn đó là: “Đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.” (x.Mt 6, 25-34). Đừng lo âu thái quá tìm kiếm của ăn, cái mặc vì “Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó”.
Có bao giờ chúng ta bớt chút thời giờ, thưởng thức cảnh bình minh đang lên với lũ chim sẻ ríu rít đón chào ngày mới. Ngẫm xem chúng không gieo không gặt, không thu tích vào kho mà Thiên Chúa vẫn luôn quan tâm săn sóc, cho của ăn để cho chúng có thể tồn tại.
Hoặc giả như có dịp chúng ta một mình ngoài đồng nội trong cảnh hoàng hôn tĩnh mịch. Nghe tiếng gió reo, chiêm ngắm những bông hoa tự mọc lên, không cần ươm tơ kéo sợi mà vẫn được Cha trên trời khoác cho tấm áo đẹp lộng lẫy hơn áo bào vinh hoa tột bậc của vua Salomon.
Chim trời không có giá trị bao nhiêu, bông hoa ngoài đồng nay còn mai mất mà Thiên Chúa còn nuôi ăn, ban cho mặc đẹp. Con người là con cái Thiên Chúa chả lẽ lại không được Ngài quan tâm chăm sóc đặc biệt hơn những thứ phù vân đó sao?
Có ai trong chúng ta, nhờ lo lắng, mà “kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay?” Hơn nữa, dù ta có lo lắng bao nhiêu đi nữa cũng vô ích, vì mọi sự đều do ơn Chúa ban như lời thánh Phao-lô: “Tôi trồng, anh A-pô-lô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên” (1Cr 3,6). 
Những lo lắng của chúng ta là những cái lo trước mắt để kiếm thêm thu nhập, còn cái lo của Thiên Chúa là con người không quan tâm những điều nằm trong thánh ý của Ngài. Những điều cần cho thân xác như của ăn, áo mặc không đáng giá mảy may nào trước sự tín thác vào tình thương quan phòng của Thiên Chúa. 
Tín thác không đồng nghĩa với thái độ thụ động, ỷ nại phó mặc cho Chúa định liệu mọi sự, còn mình thì nằm hưởng nhàn chờ “sung rụng”. Tín thác là an tâm làm việc để kiếm tiền nuôi thân với niềm tin Chúa sẽ ban cho đủ lương thực hằng ngày như lời cầu trong Kinh Lạy Cha: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày” (Mt 6,11). 
Tín thác vào Chúa quan phòng cũng đồng nghĩa với việc sẵn sàng nhìn nhận những sai lầm, thiếu sót của mình để tu sửa. Khoan dung, chân thành góp ý hướng dẫn trước những khuyết điểm của người dưới. Chấp nhận các sự thất bại như cơ hội giúp mình thêm kinh nghiệm để làm tốt hơn trong tương lai.
Người không nhận biết Thiên Chúa và không tin có đời sau chỉ lo tìm kiếm hạnh phúc vật chất cho đời tạm này. Người Ki-tô hữu chúng ta tin vào Chúa nên đừng lo tìm kiếm những giá trị tương đối mà hãy lo tìm những giá trị vĩnh củu. Đó là ưu tiên làm sáng danh Thiên Chúa như Chúa Giê-su đã dạy cầu nguyện trong Kinh Lạy Cha: danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Mỗi tối, hãy dâng lên Thiên Chúa những lời cảm tạ vì những ơn lành Chúa đã ban và phó thác nơi Người những nỗi lo âu, vất vả trong cuộc sống. Hãy tín thác đời mình vào bàn tay Chúa quan phòng và thư thái nghỉ ngơi trong Trái Tim Chúa thay vì nằm vắt tay lên trán trằn trọc suy nghĩ lo lắng thái quá.
Thử nghĩ xem, nếu đêm nay, thần chết đến gọi ta, liệu ta có thể nói với hắn rằng: “Hãy khoan, để tôi lo kiếm thêm ít của ăn cái mặc, để tôi lo kiếm thêm một ít tiền, để tôi lo …” được không? Vì vậy hãy “quẳng gánh lo đi” để sống ung dung trong từng giây phút hiện tại. Bình tâm chu toàn các việc bổn phận với lòng mến Chúa yêu người, và tín thác cậy trông vào tình thương quan phòng của Thiên Chúa.
Mùa tựu trường năm học 2015-2016



Đã đăng trên:
http://gdpttthathocmon.org/?p=5494#more-5494

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2015

CHUYỆN LỄ LẠT


“Tháng Giêng là tháng ăn chơi, tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè”. Câu nói đó trong dân gian đã phản ảnh được phần nào thói quen trong sinh hoạt của người Việt Nam. Ngày xưa, khi còn là một nước nông nghiệp, ngoài những thời vụ vất vả như lúc cày bừa, gieo cấy, gặt hái. Còn lại là lúc nông nhàn, người ta tổ chức các thứ hội hè, lễ lạt, đình đám để lấp đầy khoảng thời gian trống vắng đó.

Ngày nay dù không còn những lúc rảnh rỗi như xưa, nhưng thói quen này đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi người, nhất là khi đời sống vật chất và tinh thần đang dần được nâng cao. Như ông bà ta thường nói “phú quý sinh lễ nghĩa”, con người thường có nhu cầu tự đề cao, tôn vinh mình qua việc tổ chức các ngày lễ riêng.

Thông thường người ta hay dùng từ “lễ lạc” để nói về hội hè vui tươi trong các dịp lễ. Nhưng theo đúng từ điển thì khẩu ngữ “lễ lạt”, theo cách nói khái quát là các cuộc lễ hội hoặc lễ vật. Ở đây ta cũng có thể hiểu chữ “lạt” là nhạt nhẽo như nét chữ không đậm mà nhạt, và ăn cơm mà kiêng món mặn thì gọi là ăn lạt. Còn từ lạt mà đọc ra lạc, có thể là do phát âm sai hoặc là muốn chuyển sang chữ lạc với ngụ ý là vui vẻ.

Những năm gần đây, người ta khơi lại những đám cưới vàng, đám cưới bạc …. Tùy thuộc vào thời gian đôi vợ chồng đã chung sống với nhau bao nhiêu năm mà người ta thường tổ chức lễ kỷ niệm ngày cưới có tên gọi lễ bạc, lễ vàng. Đặc biệt có cả đám cưới kim cương để tôn vinh những cuộc hôn nhân mỹ mãn, vợ chồng cùng chung sống hạnh phúc lâu bền.

Ngoài ý nghĩa là lễ kỉ niệm dành cho cặp vợ chồng, cho gia đình, nó còn là cách để người ta khẳng định đẳng cấp, phong cách sống của người thành đạt.  Nhiều người không cần đợi đến 25 năm hay 50 năm, mà thích tổ chức kỷ niệm ngày cưới ở các cột mốc dễ nhớ như 5 năm, 10 năm, 15 năm… giống như nhà nước hoặc thậm chí năm nào cũng tổ chức!

Từ đó người ta đua nhau bày ra những ngày, những loại lễ kỉ niệm tương tự. Đành rằng đây là tự do cá nhân và những ngày lễ đó cũng đáng mừng, nhưng là mừng sao cho hợp lý và phải đạo. Những lễ mừng kèm theo tiệc tùng quá linh đình tốn phí, có thể gây tiếng tăm hãnh diện nhưng cũng thường để lại trong lòng người chút dư âm không mấy thiện cảm.

Người Kitô hữu chúng ta cũng sống trong nền văn hóa đó. Trong các giáo xứ, hầu như tháng nào cũng có ngày lễ mừng bổn mạng của các khu, đoàn thể hay cá nhân. Ai cũng muốn ngày lễ của khu, của đoàn thể hoặc của mình được tổ chức long trọng, hoành tráng như là một dịp báo công. Điều này cũng đúng vì đây là dịp để các thành viên noi gương Thánh quan thầy, xét lại mình trong thời gian qua đã giúp ích gì cho Giáo hội, cho giáo xứ chưa.

Nhưng thường thì “lạc” sẽ đi kèm theo lễ và muốn vui thì phải có ăn uống. Đây là phần phức tạp, dễ gây mất lòng và dễ bị phê bình là mở tiệc đề nhân cơ hội nhận quà cáp và tiền bạc. Có những vị giữ nhiều chức vụ trong Hội đồng mục vụ hàng tháng đều nhận được từ 1 đến 2 thiệp mời. Đành rằng “nay người, mai ta”, nhưng nếu đoàn thể có quỹ dồi dào hay cá nhân có điều kiện thì không sao; còn không thì khi cầm tấm thiệp mời có “lạc” đi kèm trong tay, đa số đều “chán như con gián”.


"Vô tửu bất thành lễ", khi gắn với “lạc”, rượu là một chất men không thể thiếu. Trong các bữa tiệc, người ta đua nhau “dzô, dzô” và nếu không tự chủ được thì điều thường gặp là “rượu vào, lời ra". Nói nhiều, nói dài nhưng không ý thức hết điều đã nói, gây chuyện “đa ngôn đa quá", lắm lúc tạo nên sự hiểu lầm, gây mất đoàn kết. Không nhiều thì ít, cũng gây phiền toái đến người chung quanh.

Ở đời chẳng biết sợ ai, 

Sợ thằng say rượu nói dai tối ngày. 

Rượu nào rượu lại say người, 

Bớ người say rượu, chớ cười rượu say. 


Lại có những lễ lạc để lại những dư vị đắng lòng khi mà người ta so đo tính toán hơn thiệt ngay lúc tiệc chưa tàn. Có những vị ngồi không yên, ăn không ngon vì mải lo điểm mặt thực khách mà vì mời nhiều quá nên không biết hết mặt những người đại diện. Nghi ngờ người này, người nọ lợi dụng “ăn chùa” nhưng không dám hỏi. Nhất là khi kiểm lại phong bao tiền mừng thấy chưa đủ sở hụi hoặc không thấy tên đoàn thể này, ông bà kia thì đâm ra bực tức, tấu sàm đủ kiểu.

Trước con mắt của những người ngoài Công giáo, cách chúng ta sử dụng tiền bạc tổ chức lễ lạt đình đám như thế dễ bị mang tiếng là không biết xử thế ở đời; vô cảm trước cảnh nghèo khổ của những người túng đói, hay lợi dụng cơ hội để làm tiền. Tuyên ngôn Hội nghị các Giám mục Á châu tại Manila năm 1971 không muốn Giáo Hội là một ốc đảo giữa đại dương mênh mông của nghèo đói và khốn cùng.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô ngay từ khi mới lên ngôi năm 2013 cũng xác định Giáo hội ưu tiên cho người nghèo và theo đuổi con đường xây dựng Giáo hội sống tinh thần nghèo khó. Vậy nên chăng ta cần hạn chế đi phần “lạc” sau khi mừng lễ, nếu cần thiết thì đôi ba năm một lần nhưng cần liệu sao cho vừa phải, tránh lãng phí để các ngày lễ không “lạt” mà trở nên “lạc” thực sự.

Đã đăng trên:
http://www.thanhlinh.net/node/92398

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

CHUYỆN XÓM GIỀNG

Một hôm, có người thông luật kia đứng lên hỏi Ðức Giêsu để thử Người rằng: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?"  Người đáp: "Trong Luật đã viết gì? Anh đọc thế nào?" Anh ấy thưa: "Ngươi hãy yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi và người thân cận như chính mình".  Ðức Giêsu bảo anh ta: "Anh trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống" (Lc. 10,25-28).

Nhưng ai là người thân cận của tôi? Tục ngữ VN có câu “nhất cận thân, nhì cận lân” rất ý nghĩa. Người thân cận với tôi không phải là một ý niệm trừu tượng. Không chỉ là những người cùng huyết thống, cùng nhà, cùng đoàn thể, cùng tôn giáo, cùng quê hương, cùng lý tưởng. Người thân cận với tôi còn là những người lao động chung cơ quan, đoàn thể và nhất là người những người hàng xóm mà tôi phải chung sống và chịu đựng hằng ngày.

Con người ngày nay quá quen với lối sống ích kỷ, thực dụng. Họ đề cao tự do cá nhân nhưng lại muốn đùn đẩy trách nhiệm cho người khác. Họ muốn được hơn người trong cộng đồng, khu xóm và luôn cảm thấy thấy khó chịu với những người hàng xóm. Khó chịu vì những âm thanh karaoke ồn ào được phát ra từ những chiếc loa phóng thanh công suất lớn, vì những bãi phóng uế bừa bãi của vật nuôi, vì những bịch rác để không đúng chỗ, từ vũng nước xả ra từ sân nhà bên đọng lại…

Những khó chịu đó cứ chất chứa trong lòng và tích tụ lâu ngày như thùng thuốc súng chờ đợi có ngòi nổ châm vào là bùng lên những to tiếng, cãi vã - nhất là trong những ngày nắng nóng, oi bức vừa qua. Nếu ta hay cáu gắt lên vì những chuyện vặt với người hàng xóm của mình, ta rất có thể đi đến chỗ phát khùng, cãi cọ, thậm chí đi đến ẩu đả bởi vì sẽ có rất nhiều chuyện không đâu với những người hàng xóm để mà tranh cãi.


Những người thân cận của ta như vậy đó. Nói yêu thương thì dễ nhưng áp dụng vào đời sống thường ngày sao khó quá! Con người hôm nay cứ tưởng mình đã biết yêu và thường thấy tự mãn, hạnh phúc khi mình được yêu. Nhưng tình yêu thực sự bao giờ cũng cụ thể: chấp nhận chịu thua thiệt, chấp nhận gặp rắc rối, xáo trộn và hi sinh. Vì vậy lúc nào người ta cũng có cớ để né tránh yêu thương và sẵn sàng ăn thua đủ với nhau.

Đạo Công giáo là đạo của yêu thương: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Đức Giêsu đã làm mẫu gương tuyêt vời cho tình yêu ấy. Đặc biệt qua hành động rửa chân cho các môn đệ trong bữa Tiệc ly, và đỉnh cao là cái chết trên Thập giá. Đây là hành động tự hiến tế của Tình yêu cứu chuộc, là tự hủy mình đi để cho người mình yêu được sống.

Người môn đệ đích thực của Chúa Giêsu phải là người biết yêu thương, sự yêu thương này phải được thể hiện bằng mọi hành động trong cuộc sống. Thái độ sống thường nhật giữa các thành viên và với những người khác trong cộng đoàn phải là “nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.” (1Cr 13,4-7).

Yêu thương thì phải yêu thương người khác ngoài mình. Yêu thương mà  không có đối tượng là yêu chính mình, là ích kỷ. Yêu thương là cho đi. Khi ta yêu thương ai, ta thích cho người đó hoặc cái này hoặc cái nọ, yêu thương cao độ nhất là cho người ấy chính bản thân mình. Cho đi thì hạnh phúc hơn là lãnh nhận. Người thích cho đi thì yêu thương thật, kẻ thích lãnh nhận thì chưa biết yêu thương. Yêu thương còn phải hòa hợp, chấp nhận và tôn trọng những khác biệt của nhau.

Khởi điểm của yêu thương là mở lòng ra và chia sẻ. Thái độ mở ra, chia sẻ nầy đòi hỏi ta phải ra khỏi bản thân và đi đến với người khác. Thái độ nầy đòi hỏi ta phải từ bỏ tính ích kỷ vốn tiềm ẩn trong não trạng mỗi người. Thực sự biết quan tâm đến ích lợi và hạnh phúc của người khác ngay trong những suy nghĩ, ước mơ, và tính toán của mình. Biết nhìn nhận người khác ngay trong cái khác biệt của họ.

Cần đặt mình vào vị trí của những người hàng xóm và cố gắng có những cảm thông để chung sống hòa bình. Điều này không có nghĩa là ta nhu nhược và để mặc cho họ “tung hoành” theo bất cứ cách nào họ muốn. Hãy khởi sự xây dựng mối quan hệ hòa thuận bằng cách gạt bỏ những khó chịu và là người chìa tay ra trước. Hãy dùng những lời lẽ nhẹ nhàng và xắn tay áo lên để dọn dẹp những nguyên nhân làm ta khó chịu. Những người hàng xóm vẫn hiện diện mỗi ngày trong cuộc sống và ta chỉ có thể thay đổi cách nhìn về họ. Hãy chú ý đến những điều tốt đẹp họ làm và phớt lờ đi những thói quen có thể gây bực mình của họ.

Có một câu chuyện kể rằng: trong một xóm đạo, có hai người hàng xóm kia thường xuyên cãi nhau về những chuyện vặt vãnh. Mâu thuẫn của họ ngày càng trở nên gay gắt và cuộc sống căng thẳng hầu như không thể nào giải hòa được. Những cuộc cãi vã, gấu ó ngày càng tăng đến nỗi người ta phải đề nghị hai người tìm gặp Thiên Chúa ở trên một ngọn núi cao để xin Ngài hóa giải giúp.

Người thứ nhất vất vả leo lên tận đỉnh núi và thấy Thiên Chúa đang đợi anh ta ở đó. Anh ta kinh ngạc không thể tin vào mắt mình vì Thiên Chúa có khuôn mặt giống y hệt người hàng xóm đầy ác cảm và khó chịu của mình. Không ai biết Thiên Chúa đã nói gì mà khi trở về anh ta đã thay đổi và đến bắt tay làm hòa với người hàng xóm. Nhưng anh này vẫn cố chấp và thậm chí còn có những thái độ quá quắt hơn xưa.

Nhưng rồi vì áp lực của dân chúng, người hàng xóm còn lại cũng miễn cưỡng cố leo lên đỉnh núi để xem Thiên Chúa ra sao. Ở trên đỉnh núi, anh ta cũng bắt gặp Thiên Chúa có khuôn mặt giống như người hàng xóm khó ưa của mình. Từ lúc đó, anh ta thay đổi thái độ cư xử và chung sống hòa thuận không những với anh hàng xóm kia mà còn với mọi người khác trong xóm.

Nhờ gặp gỡ với Thiên Chúa, hai người hàng xóm trong câu chuyện trên đã “ngộ” ra tha nhân chính là hình ảnh của Thiên Chúa. Quả thật, Thiên Chúa đã hóa thân làm người và cùng sống chia vui, sẻ buồn với kiếp người chúng ta. Ta không cần phải tìm kiếm Thiên Chúa nơi cao xa chót vót. Thiên Chúa đã và đang hiện diện quanh ta trong mỗi phút giây cuộc sống, ngay trong những người hàng xóm quanh ta. Mỗi Kitô hữu chúng ta phải sống thế nào để “tỏa sáng giữa đời thường”, để những người hàng xóm cũng nhận ra được hình ảnh sống động của Thiên Chúa trong ta.

Đức Thánh Cha Phanxicô trong Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo 2015 đã kêu gọi mọi thành viên của Hội Thánh hãy rao giảng Tin Mừng bằng chứng tá đời sống của mình. Đức Thánh GH Gioan Phaolô II cũng đã nói đến sứ mệnh của mỗi gia đình là “gìn giữ, biểu lộ, và thông truyền tình yêu, và đây vừa là một phản chiếu sống động vừa là một sự thông dự thực sự vào Tình yêu Thiên Chúa dành cho con người, Tình yêu của Chúa Kitô dành cho Hội thánh, Hiền Thê Người”.

Ước chi mỗi người, mỗi gia đình Kitô hữu hãy Tân Phúc-Âm-hóa đời sống Giáo xứ và Cộng đoàn bằng chính những người hàng xóm thân cận của mình để xây dựng những khu xóm không còn những tiếng cãi vã và trở thành một cộng đoàn hiệp thông để truyền rao Tình Yêu Thiên Chúa. Amen.

Đã đăng trên:

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

ĐƯỢC SAI ĐI


Loan báo Tin Mừng là công việc của người môn đệ Chúa, là ơn gọi Chúa ban cho mỗi chúng ta. Xã hội đương thời đang sống trong khủng hoảng “nhiều người, việc ít”. Nhưng Chúa Giêsu lại gợi lên một thực trạng ngược lại “việc nhiều nhưng thiếu người”, “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít”.
Lời Chúa trong phụng vụ Chúa nhật XV thường niên mời gọi ta ý thức lại ơn gọi của kẻ được sai đi để trao bình an giữa những nghịch cảnh đời người.
12 Tông đồ được sai đi theo bài sai của chính Chúa Giêsu. Bài sai này xuất phát từ sự quan tâm thao thức trước tình trạng thiếu hụt thợ gặt trên cánh đồng truyền giáo của Chúa. Việc sai đi từng hai người một nói lên tính cộng đoàn, nghĩa là các môn đệ của Chúa cần cộng tác và liên đới với nhau trong sứ vụ.
Các ông không làm việc riêng lẻ mà làm việc theo nhóm với tinh thần trách nhiệm. Cùng chung vui-chia cực-sẻ khổ với nhau, và cùng theo một đường hướng nhất định. Sau này thời tông đồ công vụ cũng thực hiện y như thế: Phê-rô và Gio-an (Cv 3,1; 4,13), Phao-lô và Ba-ra-ba (Cv 13,2), Giu-đa và Si-la (Cv 15,22b).
Hành trang, lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng… là những nhu cầu dự phòng của cá nhân dễ làm cho người môn đệ phân tâm. Đơn giản Chúa không cần mấy thứ đó. Hành trang cần mang chính là sự tín thác và tinh thần siêu thoát để dễ trao ban cho người khác.

Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo. Người bảo các ông: "Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi. Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ." (Mc 6, 8-11)

Các tông đồ được sai đi không phải để làm công việc tiếp thị Tin Mừng  nhưng là đem Tin Mừng tiếp cận với con người, ngay cả trong những nghịch cảnh đời tông đồ: được và không được đón nhận. Nghịch cảnh ấy không nhận chìm căn tính tông đồ nhưng giúp họ có sức mạnh trung thành với sứ mạng và can đảm khôn ngoan hiền hòa như chiên giữa bầy sói.

Chúa muốn Lời sức mạnh của Ngài là hành trang thiết yếu trong những chuyến đi của các môn đệ. Họ cất bước ra đi trong sự nghèo nàn để không cậy dựa vào bất cứ điều gì ngoài sự tin tưởng, phó thác. Ngay cả những nhu yếu phẩm hàng ngày như cơm ăn, áo mặc thì cũng chỉ nhận lãnh như những quà tặng của những người họ ghé thăm.
Nhưng con người thường tự trang bị cho mình đủ các thứ: tham vọng, kiêu căng và bao nhiêu ảo vọng không phải thuộc về Chúa. “Con người cũ” vẫn còn hiện diện trong mỗi chúng ta. Người môn đệ phải từ bỏ tất cả những gì có thể ngăn cản lời Chúa. Làm việc tông đồ, càng bỏ mình, càng tin phục vào Chúa thì mới đạt hiệu quả.

Khi sai các tông đồ đi, Chúa Giêsu cũng chia sẻ với họ một phần quyền năng của Ngài, quyền trên sự dữ. Các ông ra đi là đi vào cuộc chiến chống ma quỷ. Xua tan đi ma quỷ đang chiếm hữu các tâm hồn, giải thoát con người khỏi ách nô lệ của thần dữ và những bệnh tật tâm hồn, thể xác.
Lên đường đến với muôn dân, người môn đệ được mời gọi trao truyền bình an cho người khác. Bình an đó là bình an cứu độ, bình an nội tâm, bình an siêu nhiên. Bình an có thể hiểu là của những người mang dấu tích cuộc khổ nạn của Đức Kitô như trong thư Galát của Thánh Phaolô.
Chúa vẫn sai chúng ta, những người tông đồ của Thánh Tâm Chúa từ bỏ tất cả để ra đi. Từ ngày chúng ta chịu phép Thêm sức là chúng ta đã lãnh bài sai ra đi và ngày chúng ta tuyên hứa là một lần tái nhận. Ra đi ngày nay là biến cuộc sống hằng ngày thành một tuyên xưng đức tin sống động và rõ rệt. Hành trang của chúng ta không có gì khác ngoài niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự yêu thương của Thánh Tâm Chúa.
Công Đồng Vatican II, trong sắc lệnh về truyền giáo (Ad gentes) đã nêu rõ: “Giáo Hội nhờ Chúa Thánh Thần thúc đẩy, cũng tiến bước trên con đường mà Chúa Giêsu đã đi, là nghèo khó, vâng phục, phục vụ và tự hiến thân cho đến chết”. Ngày nay, liệu chúng ta có dám từ bỏ tất cả để ra đi loan báo Tin Mừng chỉ với niềm tin tuyệt đối vào Đấng đã sai chúng ta đi không?


Đã đăng trên:


Thứ Ba, 23 tháng 6, 2015

NGÀI PHẢI ĐƯỢC NÂNG LÊN


Thiếu thời, tôi có may mắn được sống nội trú trong một cộng đoàn nhận Thánh Gioan Tiền Hô làm quan thầy. Những lời kinh nguyện hàng ngày “Lạy Thánh Gioan Tiền Hô Đức Kitô là Thánh sư chúng con, Thánh sư đã được Chúa chọn ngay từ trong lòng mẹ để dọn đường cho Chúa cứu thế, làm chứng và rao giảng về Ngài …” đã thấm đẫm và in sâu vào tâm trí tôi về một vị thánh mà đã có lần Chúa Giêsu ca ngợi là: “trong số những người sinh ra bởi người nữ, chưa từng có ai cao trọng hơn. (Mt 11,11).

Sự ra đời của thánh nhân là một đặc ân của Thiên Chúa vì Gioan Tiền Hô - hay còn gọi là Gioan Baotixita, Gioan Tẩy Giả - là con của thầy tư tế Da-ca-ri-a và bà Ê-li-sa-bét, chị họ của Đức Maria. Cả hai ông bà đều là người công chính trước mặt Thiên Chúa, sống đúng theo mọi điều răn và mệnh lệnh của Chúa, không ai chê trách được điều gì. Nhưng họ lại không có con, vì bà Ê-li-sa-bét là người hiếm hoi. Vả lại, cả hai đều đã cao niên (Lc 1,6). Cả hai không ngừng cầu xin Chúa ban cho họ một người con vì theo quan niệm Do Thái những cặp vợ chồng không con nối dòng trong ngày Đấng cứu thế ngự đến sẽ bị khinh khi, miệt thị.

Lời khẩn cầu của họ đã được Chúa dủ lòng thương nhậm lời. Trong cuộc bắt thăm thường lệ của hàng tư tế, ông Da-ca-ri-a đã trúng thăm được vào dâng hương trong Đền Thờ. Trong giờ dâng hương đó, toàn thể dân chúng cầu nguyện ở bên ngoài. Sứ thần Chúa báo tin cho ông biết Thiên Chúa đã nhận lời ông bà và vợ ông sẽ sinh một đứa con trai. Nhưng vì Da-ca-ri-a hoài nghi, vì thế Chúa đã để ông bị câm trong suốt thời gian vợ ông mang thai và sinh con.

Theo tục lệ của người Do Thái, khi con trẻ được tám ngày, người ta đến làm phép cắt bì, và tính lấy tên cha để đặt cho em. Nhưng cả hai ông bà đều dứt khoát đặt tên cho con trẻ là Gioan. Tên Gioan có nghĩa là “Chúa thương” và đó là tên do sứ thần Chúa bảo ông phải đặt cho con mình. Đây là một cái tên đặc biệt vì không ai trong họ hàng bà Ê-li-sa-bét có tên đó. Ai nấy đều bỡ ngỡ. Ngay lúc ấy, miệng lưỡi ông Da-ca-ri-a lại mở ra, nói được, và dâng lời ngợi khen Thiên Chúa: " Hài Nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao; con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người, bảo cho dân Chúa biết : Người sẽ cứu độ là tha cho họ hết mọi tội khiên" (Lc 1, 76-77).

Gioan còn được Thiên Chúa ban cho đặc ân khỏi tội nguyên tổ từ khi ông còn là bào thai nhảy mừng trong bụng mẹ khi được Đức Maria viếng thăm.(x. Lc 1,39-45). Ngoài Chúa Giêsu và Đức Trinh Nữ Maria, chỉ có Gioan Tiền Hô là vị thánh được Giáo hội mừng kính vào ngày sinh nhật (24/6) và ngày qua đời của mình (29/8). Tất cả chúng ta, khi mở mắt chào đời, đều mang theo mình tội nguyên tổ. Nếu lập nhiều công phúc ở trần gian mà về trời hiển thánh thì mới được mừng lễ vào ngày qua đời (ví như ngày sinh nhật tại nước trời) như bao vị thánh. Còn thánh Gioan lại được Giáo hội mừng cả lễ sinh nhật trần gian và sinh nhật nước trời nhờ đặc ân cao cả này.

Được Thiên Chúa tuyển chọn, Gioan đã thi hành sứ vụ của mình bằng những hành động dấn thân tích cực. Ngay từ khi thơ ấu, theo tiếng Chúa gọi, ông đã sống đời ẩn dật cầu nguyện trong hoang địa, tức vùng đồi núi Giu-đê. Đời sống vật chất khắc khổ: mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng. Nhưng càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh. Cuộc sống trong hoang địa đã tôi luyện cho ông chú tâm lắng nghe và thực hiện ý Chúa. Tâm hồn ông luôn hướng về Đấng cứu thế mà ông sẽ phải làm kẻ "dọn đường". Ông là vị ngôn sứ cuối cùng và cao cả của Cựu ước (x. Lc 1,76; Mt 11,9), là chứng nhân đầu tiên của Đức Giêsu Kitô.

Như lời chép trong sách ngôn sứ I-sai-a, Gioan Tiền Hô đã xuất hiện trong hoang địa, đi rao giảng khắp vùng sông Gio-đan kêu gọi mọi người ăn năn sám hối chịu phép rửa để được ơn tha tội. Mọi người từ khắp miền Giu-đê và thành Giê-ru-sa-lem kéo đến với ông để được nghe giảng dạy. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong nước sông Gio-đan. Ngay Đức Giêsu cũng nhận lãnh phép rửa sám hối từ tay ông tuyển chọn những môn đệ đầu tiên của mình từ những môn đệ của ông.

Danh tiếng của Gioan  đã khiến một số người Do Thái lầm tưởng ông là Đấng cứu thế mà dân chúng hằng mong đợi, nhưng ông khiêm tốn trả lời: "Phần tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa.” (Lc 3,16).

Trong suốt cuộc đời, Gioan luôn luôn khiêm tốn nhận mình nhỏ bé. Chính ông tự giới thiệu mình là tiếng kêu trong hoang mạc, người tiền hô cho Đấng cứu thế đang đến. Ông nói: Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói. (Ga 1,23).  “Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người." (Ga 1,27). Và trong lời chứng cuối cùng của mình về Đức Giêsu, Gioan đã đưa ra khẩu hiệu Illum oportet crescere, me autem minui” (Ngài phải được nâng lên, còn tôi phải hạ xuống) (Ga 3,30).

Khẩu hiệu này đã trở thành lý tưởng, là luật sống cho các cộng đoàn và mỗi người nhận thánh nhân làm quan thầy. Đối với người Kitô hữu sống là sống cho Chúa, vì Chúa và với Chúa. Vì vậy trong cuộc sống, ta phải không ngừng “gạn đục, khơi trong”; chấp nhận gọt tỉa và vứt bỏ những gì là thừa thãi trong “cái tôi” để khuôn mặt Đức Kitô luôn nổi bật, tỏa sáng trên mỗi khuôn mặt chúng ta.

Mừng sinh nhật thánh Gioan, Giáo hội cũng mời gọi mỗi người chúng ta nhìn lại ơn gọi làm ngôn sứ của mình từ ngày được tái sinh trong phép rửa tội. Trong ngày đó ta cũng đã lãnh nhận ngọn nến sáng với sứ mệnh “tiền hô” của Đáng cứu thế lan tỏa cho nhân gian. Dù sống trong hoàn cảnh nào, ánh sáng của người Kitô hữu chúng ta “phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời. (Mt 5,16).

Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu, Chúa đã ban cho Thánh Gioan tiền hô những đặc ân để chuẩn bị cho Chúa một dân tộc thánh thiện. Thánh nhân đã giúp cho những người đương thời ăn năn sám hối, chịu phép rửa để được ơn tha tội đón tiếp Chúa. Xin cho những quanh co, vòng vo trong lòng chúng con được nên ngay thẳng; những mấp mô, lấn cấn trong tâm hồn được san cho phẳng để chúng con trở nên công cụ giúp người khác gặp được Chúa.

Xin cho chúng con được tiếp bước theo con đường của thánh nhân: làm chứng và rao giảng Tin Mừng với tinh thần khiêm hạ không khua chiêng, đánh trống. Cho chúng con biết mỗi ngày tự hạ mình xuống để làm tôn vinh Chúa trong những khi thành công hay thất bại. Xin cho chúng con dù ở trong hoàn cảnh nào, bậc sống nào vẫn luôn luôn khắc ghi trong lòng phương châm sống đã được hun đúc qua khẩu hiệu bao quanh ngọn lửa của cây nến Phục Sinh: "Illum oportet crescere”.

Sinh nhật Thánh Gioan Tẩy Giả 24/06/2015

Đã đăng trên:

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

ĐIỆP KHÚC THÁNG SÁU


“Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”. Mười lời nguyện Thánh Tâm Chúa Giêsu như điệp khúc lại ngân nga tràn ngập tâm hồn con khi tháng Sáu với lễ kính Thánh Tâm lại theo chu kỳ phụng vụ trở về. Như mặt đất mùa hè nóng ran chờ đợi những cơn mưa tưới mát, như cây cỏ hồi sinh sau những ngày nắng hạn. Con xin đến nương nhờ những giọt Máu và Nước đổ ra từ Thánh Tâm Chúa là nguồn Tình yêu rửa sạch và tái tạo mọi ngóc ngách khô khan trong tâm hồn.

Bắt đầu từ những nhu cầu của con thật nhiều và thật quá lớn, tưởng chừng như không có giới hạn. Nhu cầu vật chất như những cơn sóng liên tiếp bao phủ thân con. Chưa bao giờ con bằng lòng với cái tôi của mình, và với những gì con đang có. Nhiều lần con tìm kiếm những tiện nghi vật chất, sống nếp sống trưởng giả để tự thỏa mãn nhu cầu bản thân. Nhưng nhu cầu nào là tốt, là có lợi cho con? Nhu cầu nào đủ cho con và đẹp theo Thánh ý Chúa? Trong mọi nhu cầu, xin cho con biết chạy đến cùng Chúa, tin tưởng và khiêm nhường thưa với Chúa rằng: “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”.

Trong những lúc con do dự, phân vân và bị cám dỗ trong hành trình sống đức tin. Con hoang mang lo sợ, nhưng trí khôn vẫn mách bảo con phải tỉnh táo, phải uyển chuyển. Óc tưởng tượng trong con vẽ ra bao nhiêu cám dỗ đang khi Satan reo, giăng bẫy, nhử mồi. “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”. Xin chia sẻ cho con tinh thần kiên vững. Xin giúp con sống cho đến cùng những đòi hỏi của Tin Mừng mà không cần quan tâm, cân nhắc hậu quả. Xin giúp con vững tin vào Tình yêu Chúa mà dấn bước vào đời.

Con chỉ lo tìm kiếm sự an thân vật chất cho mình, chẳng thèm nhớ và quan tâm đến ai. Con không chấp nhận và chia sẻ với anh chị em quanh con. Con tưởng rằng với tài cán và sự tự do của mình, con có thể vượt lên khỏi đám đông nghèo hèn, thấp kém. Con đã quá ngạo mạn, đã đi ngược hướng Tình yêu Chúa. Con đã tự mình rời xa khỏi Thiên Chúa và kết cục là chỉ còn lại mình con lầm lũi gò lưng vác thánh giá mà con đã tự đặt cho đời mình. Trong những giờ cô đơn, mỏi mệt và thử thách đó. “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”.

Lúc những kẻ khác ruồng bỏ con, người thân, bạn bè … bỏ rơi con. Người thì thất vọng, thương hại cho con. Kẻ thì lắc đầu, bĩu môi, khinh bỉ. Tất cả đều quay lưng lại với con, bỏ mặc con trong lúc con cần được nâng đỡ nhất. Con cô độc, con không thể bước đi một mình, chỉ có ơn Chúa mới hỗ trợ con.  “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”. Xin đừng để con sa lầy trong trạng thái vô tình, thờ ơ, lãnh đạm. Xin giúp con biết nhìn ra và chấp nhận sự hiện diện của mọi người trong gia đình, khu xóm, cộng đoàn. Xin dạy con biết kề vai đỡ lấy cuộc đời của nhau. Xin cho con biết giúp đỡ và nhận sự giúp đỡ của tha nhân, để con không còn cảm giác bị bỏ rơi, ruồng rẫy trong cơn lốc cuộc đời.

Nhiều lúc con tưởng mình tài giỏi, con an tâm, hãnh diện vì đã làm được vài việc có ích cho đoàn th, anh em. Con mong ước, lập kế hoạch, lên chương trình nhiều việc. Thế nhưng, lạy Chúa, con đã lầm: con e rằng ma quỷ đã chiếm đoạt hết, vì có thể con làm không phải vì lòng yêu mến Chúa, không làm sáng danh Chúa. Bao nhiêu tâm huyết, bao nhiêu sức lực con đổ ra cho những mong ước, những chương trình đều thất bại. Lúc con tuyệt vọng, khốn khổ, ưu sầu. “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”.

Lúc tâm hn con bun phin, chán nn, nhận thấy các nỗ lực của con không ích lợi gì. Con chẳng thiết tha gì nữa, dấn thân, cố gắng…. Tất cả đã trở nên vô nghĩa. Chung quanh con giờ chỉ toàn là công kích, nghi ngờ, thất bại và cười khẩy khinh miệt. “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”. Xin cho con được nghỉ ngơi trong Thánh Tâm Ngài, được tựa đầu vào ngực Ngài, được nghe hòa cùng một nhịp đập với trái tim Ngài. Để trái tim con được tái tạo trong sạch. Được lưỡi đòng khi xưa mở ra: mở ra để lắng nghe Lời Chúa, mở ra để hy vọng, mở ra để tin yêu tha nhân.

Nhiều lúc con cm thy bn chn vì Thánh Giá của con làm con bứt rứt. Con không còn thiết tha chiến đấu nữa. Sự dữ đã khống chế con. Con bị sa ngã, quay lưng với Thánh Giá và lảng bước đi. Con không muốn chịu đau khổ và quên mất rằng Chúa là người đau khổ nhất: đau khổ ngay từ khi nhập thế trong máng cỏ lạnh lùng đến khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá. Dù vậy, Chúa vẫn quên đi những nỗi thống khổ của mình để nhớ đến những nỗi đau khổ của con. Chúa kêu gọi con hãy đến với Ngài để được nâng đỡ ủi an khi đau khổ. Chỉ có Chúa mới làm chúng con hết khổ, chỉ có Chúa mới làm chúng con vui mừng vác Thánh Giá trong khi chịu đau khổ. “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”.

Cách đây hơn hai ngàn năm, tình yêu Chúa xuất phát từ trái tim cháy bỏng đã gom góp tất cả trần gian khốn nạn và tội lỗi để dâng lên Chúa Cha: “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha”. Xin cho con cũng được phó mình trong Tình yêu dịu ngọt của Chúa, là Cha và là Đấng Cứu Chuộc. Cho con thành khẩn cúi đầu nhận lãnh sức sống phát sinh từ cạnh sườn Chúa. Dòng nước phát sinh Giáo hội và nuôi dưỡng mọi linh hồn. Dòng nước phát sinh sự sống mới: sự sống bất diệt, thần thiêng. Sự sống giúp con chiến thắng tội lỗi và vượt qua mọi thử thách trần gian. “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”.

Những lúc con đau yếu, trí óc và đôi tay con không làm được việc gì, và con bị cô độc, lẻ loi. Một mình con nằm bất động như vật hiến tế. Các ngũ quan của con ngưng hoạt động, linh hồn con đã gần kề lìa xác. Bệnh tật, già nua, yếu đuối … như những tảng đá ngàn cân đè xuống thân xác, không cho con ngẩng đầu lên nhìn Chúa và cầu khẩn được gì nữa, con đã kiệt sức rồi. “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”. Xin Thánh Tâm đừng để con bơ vơ, nhưng xin đưa con vào ẩn náu trong Trái Tim Chúa, để con được chữa lành trong Tình yêu của Ngài.

Trí óc con trống rỗng, trước Thánh Tâm Chúa con chẳng biết thưa gì! Con hoang mang, mê muội vì những toan tính đời thường. Dù chẳng có công trạng gì xứng đáng nhưng con vẫn luôn luôn, luôn luôn mặc dầu yếu đuối, sa ngã và những thiếu sót của con: “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu xin giúp đỡ con”. Lời van xin, khẩn nài đó không chỉ là điệp khúc trong tháng Sáu nhưng là điệp khúc bất tận trong suốt cuộc đời con. Xin Thánh Tâm Chúa bảo vệ và an ủi tâm hồn con hôm nay, ngày mai và mãi mãi.

Tháng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu 2015


Đã đăng trên:
http://www.thanhlinh.net/node/89746