Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2015

NIỀM TIN SỐNG LẠI

Con người ngày nay sống trong một thế giới duy lý, nặng tính kỹ thuật; đòi hỏi phải có sự hiểu biết rõ ràng trước khi đặt niềm tin vào con người, sự vật, hiện tượng nào đó. Nhưng tiếc thay xã hội đầy dẫy những giả-chân lẫn lộn: giả danh, giả nhân, giả nghĩa …. Thiết thân nhất là trong cuộc sống hàng ngày,  nhiều loại hàng nhái, hàng giả lẫn lộn với hàng thật khiến người dùng rất khó phân biệt. Trước những hiện tượng đó, niềm tin của con người bắt đầu người chao đảo, chông chênh vì người ta không biết dựa vào đâu!

Niềm tin của người Công giáo dựa trên nền tảng Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh, nếu không có Phục Sinh thì Phúc Âm không còn là Tin Mừng và đức tin trở nên vô ích. “Thưa anh em, tôi xin nhắc lại cho anh em Tin Mừng tôi đã loan báo và anh em đã lãnh nhận cùng đang nắm vững. Nhờ Tin Mừng đó, anh em được cứu thoát, nếu anh em giữ đúng như tôi đã loan báo, bằng không thì anh em có tin cũng vô ích. Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là, Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh.(1 Cor 15,1-4).

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, Ma-ri-a Mác-đa-la ra mộ từ sáng sớm vì lòng yêu mến Thầy. Đối với bà đó là công việc quan trọng nhất trong ngày dù Thầy mình giờ đây chỉ còn là cái xác. Bà một mình chạy thẳng tới mộ thì thấy tảng đá đã lăn ra khỏi cửa mộ.
Bà vội chạy về bà báo tin cho ông Phê-rô và Gio-an. Hai môn đệ nghe tin liền chạy ra mộ. Tin mừng nói Gioan chạy đến mộ trước, nhưng chắc là muốn kính trọng Phê-rô là thủ lãnh, nên đã nhường cho Phê-rô tuy đến chậm mà vào mộ trước mình.

Các ông kiểm tra mộ: xác đã biến mất, nhưng  khăn vải liệm được gấp gọn ghẽ nên kết luận không có chuyện lấy trộm thi thể. Ngôi mộ trống đã làm chứng rằng thân xác Chúa đã không còn ở đó nữa. Nhưng niềm tin vào sự sống lại không dừng lại ở đó, mà còn gắn liền với lòng mến nơi các môn đệ đầu tiên tiếp cận với cuộc Phục Sinh của Chúa.

Gio-an, người môn đệ được Đức Giê-su thương mến, là người sớm nhất trong số các tông đồ đã tìm lại được lòng tin khi chỉ nhìn thấy khăn vải liệm. Tiếp đến là Ma-ri-a Mác-đa-la, người ngồi bên chân Chúa để nghe lời Ngài giảng dạy, cũng đã tin khi nghe thấy tiếng Chúa gọi tên mình. (x Ga 20,1-18). Đó là một ơn ban và là một niềm tin được thể hiện bằng lòng yêu mến gắn bó với Thầy mình.

Còn Phê-rô chưa tin liền mà chỉ rất đỗi ngạc nhiên vì sự việc đã xẩy ra, (x Lc 24,12) nhưng dần dà ông đã tìm được niềm tin của mình. 
Ban đầu ông chưa hiểu lời Kinh thánh nói về Chúa sẽ sống lại, đến sự kiện ngôi mộ trống, rồi những lần gặp Đấng Phục Sinh. Cuối cùng chỉ đến khi chúa Giê-su hiện ra với các môn đệ lần thứ ba, ở Biển Hồ Ti-bê-ri-a thì Phê-rô mới lấy lại được lòng tin (x Ga 21).

Mầu nhiệm Vượt Qua là một người, là Con Chiên Thiên Chúa, là Đức Ki-tô. Chính Đức Ki-tô, một người bằng xương bằng thịt, đã chiến thắng sự chết. Mỗi lần Ngài báo cho các môn đệ biết “thầy phải chết”, các môn đệ lại lấy làm bối rối. Đức Ki-tô chịu chết là thử thách lớn nhất cho niềm tin của các môn đệ, bởi vì nếu Thầy bị bắt và bị giết chết, ắt là Ngài không phải là Đấng cứu thế! Chắc Phê-rô đã nghĩ như vậy, hai môn đệ trên đường Emmau cũng thất vọng như thế! 

Dưới ánh sáng Phục Sinh ta nhận biết được thân phận con người Ki-tô hữu là “sinh-lão-bệnh-tử-phục sinh” trái với nhân sinh quan thông thường “sinh-lão-bệnh-tử”, “chết là hết” .... Đức Ki-tô Phục Sinh đã mở toang cánh cửa của sự sống đằng sau cái chết bi thương, khổ đau, mất mát … của con người. Chết là sự tái sinh của thân xác dễ mục nát này sang một cuộc sống khác với con người mới bất diệt như Đức Ki-tô Phục Sinh. “Vì anh em đã được tái sinh, không phải do hạt giống mục nát, mà do hạt giống bất diệt, nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống và tồn tại mãi mãi(1 Pr 1,23). 

Lạy Đức Ki-tô Phục Sinh, giờ đây vẫn còn có những rào cản như cái chết trong cuộc đời chúng con. Những học thuyết duy lý che khuất đức tin, chôn vùi bao ước mơ, hy vọng, bao điều chúng con yêu mến và ấp ủ. Chúng như dấu hiệu của sự mất mát, đổ vỡ, khổ đau, thất bại ... Nhưng sự sống lại của Chúa làm cho chúng con tin rằng chẳng có mất mát, khổ đau, thất bại nào lại không thể làm chúng con bừng tỉnh, lớn lên và trưởng thành.

Ước gì trong nước mắt, chúng con cảm nghiệm được niềm tin: dám quên đi điều phải quên, mất đi điều phải mất. Soi sáng cho chúng con ý thức về tình yêu của Thiên Chúa được tỏ lộ nơi Thánh Tâm bị đâm thâu của Chúa Giêsu trên Thánh Giá, và đến lượt chúng con phải dùng trái tim để đáp lại tình yêu ấy trong kinh nguyện đền tạ mỗi ngày. Cho chúng con đức tin mạnh mẽ, nỗ lực cải thiện cuộc sống mình và gặp gỡ Đức Ki-tô Phục Sinh.

Xin Thánh Tâm Chúa đánh thức tình yêu và mở rộng trái tim chúng con ra cho tha nhân. Để tình yêu của chúng con cùng các việc bác ái dành cho họ không còn là một mệnh lệnh bị áp đặt, mà là một kết quả phát sinh từ đức tin của chúng con, một đức tin trở nên tích cực qua đức ái. Alleluia! 

Mùa Phục Sinh 2015

Đã đăng trên:

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2015

PHÚT SUY TƯ NGÀY THƯƠNG KHÓ


YÊU THƯƠNG VÀ THA THỨ

Thứ Sáu Tuần Thánh, ngày cả Giáo hội hoàn vũ cùng nhau giữ chay, kiêng thịt để tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa Giê-su, thông phần đau khổ với Ngài và đặc biệt là để sám hối về những lần chúng ta đã hèn nhát, không dám tuyên xưng niềm tin vào Đức Giê-su Ki-tô là Đấng cứu độ.

Chính vì yêu thương và muốn tha thứ cho con người phạm tội bất tuân khởi đầu từ trái cấm của A-đam & E-và. Thiên Chúa đã sai con một Ngài là Đức Giê-su Ki-tô nhập thể, chịu chết và sống lại để mở đường cho nhân loại thoát khỏi ách tội lỗi của ma quỷ.

Khi tưởng niệm cuộc thương khó, chúng ta đau buồn về sự hi sinh không giới hạn và không chút oán hận của Chúa với những người âm mưu giết Ngài. Ngài chấp nhận từ bỏ chính cuộc sống mình để con người được cứu sống. Ngay cả khi bị sỉ nhục, đau khổ, bị hành hạ dã man; tình yêu của Ngài dành cho người mình yêu không hề thay đổi.

Với một tình yêu thương tột cùng sâu thẳm, Ngài đã vâng theo ý Thiên Chúa Cha tự hiến mình cho cả nhân loại. Những việc làm trong bữa tiệc ly đã trở nên một giá trị tuyệt vời cho lòng yêu mến và khiêm hạ: lấy máu, thịt mình để rửa sạch tội lỗi, nuôi dưỡng nhân loại và cúi xuống rửa chân cho từng môn đệ.

Chúa Giê-su trả giá quá đắt và quá đau cho chương trình cứu độ con người. Câu chuyện ấy đã có thật trong lịch sử cứu độ của Thiên Chúa. Ngài đã đón nhận chén đắng, một chén đắng đầy đau khổ đè nặng lên tâm hồn và thể xác. Nỗi khổ này lên đến cực độ khiến Người phải kêu lên trong vườn Giết-sê-ma-ni: "Áp-ba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con. Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn." (Mc 14,36).

Đức Kitô phải trải qua đau khổ mới đạt tới vinh quang phục sinh như những lần Ngài báo trước. Tình yêu thương và sự tha thứ của Ngài dành cho con người thật lớn lao. “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15,13)

Cũng chính vì quá đỗi yêu thương mà thân thể Người đã bị nát tan vì roi vọt, bị đóng đinh và chết treo trên thập giá. Đây chính là kết quả của lòng ghen ghét, sự phản bội, sự bất trung và của những lời tố cáo lên án vô cớ.

Bắt đầu từ lòng ghen ghét của các vị thượng tế, kinh sư và kỳ mục mà đứng đầu là Cai-pha. Họ gán cho Ngài đã làm những điều trái tai gai mắt, ăn nói lộng ngôn, vi phạm lề luật, dám cả gan đánh đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ… và nhất là việc đám đông dân chúng đi theo Ngài vào thành Giêrusalem với tiếng tung hô vang trời: "Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Đa-vít, tổ phụ chúng ta. Hoan hô trên các tầng trời! " (Mc 11,9-10).

Chúa Giêsu bị phản bội hai lần, lần thứ nhất là của Giu-đa Ít-ca-ri-ốt và cái hôn là dấu hiệu để cho quân lính bắt Đức Giê-su. Thông thường, nụ hôn là cử chỉ thân thiện, là dấu chỉ của tình yêu mà những người thân muốn trao cho nhau. Nhưng nụ hôn của Giu-đa là “nụ hôn của thần chết”, là dấu hiệu “bán đứng” Thầy mình lấy 30 đồng bạc.

Lần thứ hai là của Phê-rô chối Thầy, dù ông là một người nhiệt tình sôi nổi, là một tông đồ trưởng đầy năng động: Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy (Mt 26,35). Nhưng chỉ vài giờ sau khi Chúa Giêsu bị bắt, vì  sợ nên ông đã chối phăng là không biết Ngài đến ba lần khi có người nhận ra ông là người đi theo Chúa Giêsu.

Ánh mắt đầy lòng trắc ẩn, tha thứ của Chúa Giê-su nhìn ông sau tiếng gà gáy lần thứ hai đã khiến Phê-rô bật khóc ăn năn vì tính hèn nhát của mình. Ông đã được Chúa tha thứ, can đảm rao giảng Tin Mừng và hạnh phúc được chết trên thập giá như Thầy mình.

Dân chúng là những người dễ bị kích động hơn bao giờ hết. Mới hôm nào họ còn theo chân Chúa vào thành với những lời chúc tụng hân hoan thì giờ đây họ lại la ó, gào thét : "Đem đi! Đem nó đi! Đóng đinh nó vào thập giá! " và cuồng nhiệt hơn: "Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi! " (Mt 27,25). Kể cả khi đã bị đóng đinh và treo lên trên thập giá, Ngài còn bị người đi đường qua lại bĩu môi khinh bỉ trong cơn hấp hối. (x Mc 15,29-43)

Trong cuộc sống, đã bao lần chúng ta phản bội Chúa khi không dám xưng khai mình là người Công giáo trong các tờ lý lịch xin việc, thăng quan, tiến chức… Đã bao lần chúng ta bất trung với Chúa khi mải mê tìm kiếm tiền tài, danh vọng mà quên đi lương tâm công bằng của người Công giáo. Đã bao lần chúng ta quay lưng lại với Chúa khi tham dự vào những thú vui trần tục mà quên tham dự Thánh lễ ngày Chúa nhật và các ngày lễ trọng.

Người ta đóng đinh vì người ta ghen ghét Ngài, nhưng Ngài không chấp nhất. Chính Thánh giá tình yêu đã nói với chúng ta rằng Ngài đã yêu và tha thứ không chỉ cho người mình yêu mà còn tha thứ cho cả những người tội lỗi tìm đến với Ngài vào giây phút cuối. Đó là tên trộm lành trở về với Chúa một cách muộn màng trên thập giá nhưng lại được vào Nước Trời với Ngài ngay hôm đó.

Cái chết của Ngài là sự hòa giải chúng ta với Thiên Chúa. Thánh giá Ngài là nhịp cầu bắc qua vực thẳm bị khắc sâu bởi tội lỗi, cứu vớt chúng ta thoát khỏi cõi chết vì chống lại Thiên Chúa và kết hiệp chúng ta một lần nữa với tình thương của Chúa Cha.

Tình yêu của Chúa dành cho con người trước sau như một, ngay cả khi bị liệt vào hàng tội nhân, bị treo trên thập tự giá, trái tim của Ngài tuy bị đâm thủng vẫn rộng mở tuôn tràn ơn tha thứ và cứu độ. Sự hi sinh của Ngài là một hi sinh chấp nhận chết để cứu con người tội lội. Ngài chấp nhận bị dày xéo để chúng ta được tràn đầy ơn của Chúa. Chúa Giê-su chấp nhận hi sinh là chấp nhận bỏ mình đi và đi trọn con đường tha thứ không giới hạn.

Trên Thánh giá, sự yêu thương và tha thứ của Thiên Chúa cũng đi tới tận cùng! Tha thứ cho đến cùng có nghĩa là hi sinh cho đến tận cùng của tình yêu, một hi sinh vượt mọi chướng ngại, xuyên thấu không gian và thời gian. Ngài chấp nhận cho người ta đóng đinh cũng chỉ vì muốn làm cho tình yêu tìm lại được dung mạo thật.

Chúa Giê-su đã tha thứ cho những kẻ giết Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Nếu Ngài đã tha thứ cho kẻ thù, chúng ta cũng có thể tha thứ cho nhau. Tình yêu thương sẽ đi đến tột đỉnh khi chúng ta sẵn sàng tha thứ và trao kẻ thù của ta cho Thiên Chúa, để Ngài xử lý.

Năm 1983, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã noi gương Thầy chí Thánh của mình khi đích thân đến nhà giam để nói chuyện và tha thứ cho Ali Agca, kẻ đã mưu sát mình. Còn chúng ta, đã bao lần chúng ta tham dự nghi lễ tưởng niệm, chiêm ngắm Chúa chịu thương khó nhưng lòng ta vẫn khó thương những người làm mình khó chịu; không tha thứ cho họ dù đó là anh em ruột thịt, bạn bè thân thích!


Tam Nhật Thánh 2015

Đã đăng trên:

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

TAM NHẬT THÁNH


RỬA CHÂN

“…Thầy mà lại rửa chân cho con sao?”

Con cúi xuống nhìn đôi chân thảng thốt
Đôi bàn chân cáu bẩn bụi trần
Đôi bàn chân đã lầm đường lạc lối
Đôi bàn chân mang thương tích nhọc nhằn.

Ngày xưa đó vì yêu thương Người phục vụ
Kỳ cọ cho sạch mọi nỗi đau thương
Nhẹ nhàng tẩy, rửa mọi vết nhơ phản bội
Dịu dàng phủi đi lớp bụi kiêu căng
Lặng lẽ xoá những dấu hằn mặc cảm
Để từ nay nhân loại đứng thẳng lên
Và vững bước vào đường ngay nẻo chính
Ôi Thiên Chúa, không trí nào tưởng tượng nổi
Người hạ mình để tôn vinh con người.

Hơn hai ngàn năm Tiệc ly vẫn tái diễn
Vẫn yêu thương lòng Chúa tín trung
Con quỳ gối khiêm cung chiều thứ Năm Thánh
Vậy thưa Thầy, xin cứ rửa ... thân con đây.

CÁI CHẾT TUYỆT VỜI

Hơn 2000 năm trước Chúa Giêsu đã chết
Ngài đã chết... như nhiều người đã chết
Một cái chết đau thương, cô đơn và nhục nhã
Một cái chết không vòng hoa, chẳng vòng cườm
Một cái chết không kèn, không trống
Không người đốt nhang, chẳng ai thắp nến.

Thế mà suốt hơn hai mươi thế kỷ qua
Và chắc chắn hàng ngàn thế kỷ sau nữa
Mỗi khi tưởng nhớ đến cái chết này
Bao người đã, đang và vẫn còn phải ngậm ngùi, rơi lệ
Đó là một cái chết đẹp, đẹp tuyệt vời
Không ở hình thức nhưng ở nội dung, ý nghĩa
Là cái chết của Người Con Một, Duy Nhất
Tự nguyện hy sinh chuộc tội cả loài người

Cái chết nói lên lòng trung thành tuyệt đối
Với Thánh ý từ xa xưa của Thiên Chúa
Cái chết cũng bày tỏ sự yêu thương
Của người Con sẵn sàng làm mọi sự Cha muốn
Dù có phải hy sinh, tủi nhục, đau khổ, bị bỏ rơi
Và nhất là phải chết treo thân trên Thập Giá.

Xin cúi đầu tạ ơn Thiên Chúa
Đã chết đi vì quá đỗi yêu thương
Xin cho chúng con biết
Sống xứng đáng với tình thương Chúa
Và mãi mãi trung thành với hồng ân cao quí
Chúa đã dành cho chúng con. Amen.

VƯỢT QUA


Vượt qua từ không sang có
Ánh sáng bừng lên từ bóng tối hư vô
Trời đất, biển khơi
Cỏ cây xanh tươi cùng muôn vàn hạt giống
Mặt trời, mặt trăng,
Các vì tinh tú cùng muôn loài động vật ...
Và đẹp nhất: con người giống hình ảnh Chúa.

Vượt qua từ con người ích kỷ
Chỉ sống cho riêng mình
Để theo Thánh ý Chúa trên cao
Như Abraham dâng người con yêu quý
Lễ toàn thiêu vâng phục sấm ngôn Người.

Vượt qua Biển đỏ đêm vào miền đất hứa
Chúa ra tay đánh bại Pha-ra-ô
Cứu Ít-ra-en thoát khỏi đời nô lệ
Và bước vào cuộc sống tự do.

Vượt qua kiếp nhân sinh lỗi tội
Sống đời trong ân sủng Thánh nhan Người
Rũ bỏ đi những con người cũ
Thanh tẩy trong nước Thánh tinh tuyền
Ta nên một với Đức Ki-tô
Được chết đi cùng mai táng với Người
Và sống lại như Người đã sống lại
Vượt qua sự chết  hữu thường
Trường sinh, bất tử dắt ta theo vào.

Đã đăng trên:

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

XIN VÂNG NHƯ MẸ



Thuở Thiên sứ chào Người
Maria hồng phúc
Được Thiên Chúa ở cùng
Mẹ trong lòng bối rối

Này bà sẽ thụ thai
Sinh hạ một con trai
Đặt tên là Jésus
Người sẽ nên cao cả
Là con Đấng Tối cao
Được Thiên Chúa trao ban
Ngai vàng vua Đa-vít
Thống trị nhà Gia-cóp
Đến vô cùng vô tận

Vâng, xin vâng lạy Chúa
Phận nữ tỳ hèn mọn
Xin Chúa làm cho tôi
Như lời sứ thần nói

Phút giây xin vâng đó
Ngôi Lời đã Nhập Thể
Làm con đức Nữ Trinh
Và Mẹ diễm phúc thay
Được làm Mẹ Thiên Chúa
Nhờ quyền năng Thánh Thần
Huyền nhiệm Giao ước mới
Thiên Chúa cho con người
Trong chương trình cứu chuộc

Con xin vâng như Mẹ
Vâng, con đây Lạy Chúa
Xin theo Thánh ý Ngài.

Lễ Truyền Tin 25/03/2013


Đã đăng trên:

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015

THINH LẶNG


Mừng kính Thánh Giuse bổn mạng

Khi đã trải qua những sóng gió của cuộc đời, khi mái tóc đã bạc màu sương gió thời gian… người ta thường trầm mặc hơn, ít nói hơn. Hoặc vì người ta ngao ngán với “nhân tình, thế thái”, thu mình vào trong cái vỏ ốc tự ti của mình. Nhưng cũng có thể người ta thinh lặng để suy tính, không vội vã mà hành động khôn ngoan hơn. Có nhiều người chỉ cần thinh lặng mà làm được những việc phi thường và tìm được biết bao niềm vui trong cuộc sống.

Thánh Giuse đứng đầu trong số ít những người đó. Trước  mọi vấn đề ngài đều thinh lặng dùng đức tin để tìm hiểu, suy xét và đón nhận. Thánh Phaolô trong thư gởi cho tín hữu Do Thái đã viết: Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy.” (Dt 11,1). Nhờ đức tin thánh Giuse được chọn làm bạn Đức Maria và có sứ mạng “chăm sóc Đức Giêsu”.

Tin Mừng gồm tóm cả đời sống thánh thiện và gương mẫu của ngài bằng hai từ công chính. Công chính ở chỗ biết can đảm trong nghịch cảnh, một sự công chính vượt lên trên việc tuân thủ lề luật, do lòng kinh trọng sâu xa trước việc làm của Thiên Chúa. Ngôn từ công chính của Tin Mừng gợi lên cho chúng ta lòng khâm phục về thánh cả Giuse, một con người trầm lặng luôn sống theo thánh ý Chúa, luôn thực hiện tuyệt đối chương trình cứu chuộc của Chúa.

Tin Mừng theo Thánh Matthêu thuật lại bốn lần sứ thần báo mộng đều được thánh Giuse đáp trả bằng tiếng nói xin vâng trong thinh lặng, thinh lặng để lắng nghe tiếng Chúa. Ngài đã thinh lặng khi biết tin Maria đã mang thai trước khi hai người về chung sống, nhờ đó mà ngài nghe được tiếng Chúa bảo ngài đón nhận Maria về nhà làm vợ mình.
Các lần báo mộng tiếp theo khiến Giuse đang đêm phải tất tả đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập rồi sau đó lại được báo mộng đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Ít-ra-en, sau đó lui về miền Ga-li-lê  và đến ở tại một thành kia gọi là Na-da-rét. Trước mọi biến cố phong ba bão táp của cuộc đời, thánh Giuse luôn thinh lặng làm theo ý Chúa, nhờ đó mà ngài đã làm cho mọi sự nên trọn hảo trong vai trò cha nuôi Chúa cứu thế.
Ngài vẫn luôn giữ thái độ thinh lặng khi phải đương đầu với những thử thách cam go của cuộc đời Hài Nhi. Một thái độ sống khiêm nhu để vâng theo ý Chúa dù rằng ngài cũng rất suy tư, lo toan tìm mọi cách để có được sự an toàn nhất. Thánh Giuse đã có mặt trong mọi lúc nguy biến mà Chúa Giêsu và Đức Mẹ cần đến, nhưng khi Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ rao giảng công khai thì cuộc đời của ngài cũng bắt đầu chấm dứt một cách thinh lặng nơi trần gian này. Không một lời thắc mắc, bộc bạch, sự thinh lặng thánh của ngài đã diễn tả được cuộc đời của một con người hoàn toàn thuộc về Chúa, cho Chúa và vì Chúa.
Sự thinh lặng của ngài không phải là là do sợ hãi, nhu nhược hay dửng dưng với cuộc đời mà là tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Ngài cương quyết trong hành động, can đảm sống đương đầu với thực tế hơn là nói suông. Thái độ sống của ngài là luôn làm theo thánh ý Chúa trong việc gìn giữ Thánh gia. Chính cử chỉ, hành động và lối sống của ngài đã minh chứng ngài là con người luôn thinh lặng để lắng nghe và tuân hành thánh ý Chúa.
Thinh lặng cũng là một ngôn ngữ, ngôn ngữ nội tâm, ngôn ngữ tín thác, ngôn ngữ đức tin, ngôn ngữ chân thật. Ngài đã thinh lặng khi cùng Maria bôn ba tìm kiếm con suốt ba ngày trời, nhờ đó mà ngài đã vâng theo thánh ý Chúa dù rằng ngài chưa hiểu hết những gì đang xảy ra. Ngài đã thinh lặng để lắng nghe tiếng nói của con tim mình luôn rung nhịp yêu thương với trái tim Maria và Hài Nhi yêu dấu. Ngài đã thinh lặng để cho tiếng Chúa vang lên trong tâm hồn của mình mà nhờ đó ngài đã tìm được con Chúa giữa giòng người đông đúc trẩy hội đền Giê-ru-sa-lem.
Nếu không có một đức tin chân thật, một đức ái chân thành. Thánh Giuse sẽ không làm theo điềm báo của các giấc mộng. Tính chân thành của ngài là sống đức ái trong thinh lặng, là dám hi sinh cho người mình yêu, từ đó ngài sống cho và vì Đức Maria và Chúa Giêsu. Cuộc đời con người luôn có biết bao điều xảy ra ngoài dự định và tầm hiểu biết. Khi chưa hiểu rõ vấn đề, con người thường hay quyết đoán vội vã theo lý lẽ của mình vì thế hãy bình tâm thinh lặng để nghe theo lời Chúa trước mọi biến cố xảy ra.
Lạy Thánh Giuse bổn mạng, xin chia sẻ cho con một chút thinh lặng để con tìm ra ý Chúa trong từng biến cố cuộc đời. Để những điều con nói hay viết ra đều đẹp lòng Chúa và mang lại lợi ích cho bản thân, đoàn thể và cộng đồng dân Chúa. Xin thánh hóa sự thinh lặng của con để nó không trở thành cái vỏ để con cúi đầu chui vào ẩn nấp, đảm bảo cho sự an toàn của bản thân con. Xin cầu bầu cùng Chúa để con khỏi “sa chước cám dỗ” từ chỗ thinh lặng không dám nói  những điều mình đang trăn trở, suy nghĩ, rồi trở nên dửng dưng đối với tha nhân và với Thiên Chúa” như lời giáo huấn của Đức Thánh Cha Phanxicô trong Sứ điệp Mùa Chay 2015.

Tháng kính Thánh Giuse 2015

Đã đăng trên:
Bản tin GĐPTTTCG Giáo hạt Hóc Môn số 40-Tháng 02/2015

Thứ Tư, 18 tháng 2, 2015

KÍNH NHỚ TỔ TIÊN ÔNG BÀ CHA MẸ NGÀY TẾT

Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Mùa xuân với cây cối đâm chồi nẩy lộc, với những cánh hoa lung linh khoe sắc trên cành cùng lũ ong bướm vờn bay trong nắng ấm... Vạn vật như được hồi sinh khiến lòng người ai ai cũng cảm thấy nôn nao, rạo rực trong dịp đổi mới toàn bộ của đất trời và muôn vật. Gió xuân thổi bùng lên niềm tin vào cuộc sống cùng niềm khát khao hạnh phúc và an vui của mỗi người.

Đối với dân tộc Việt Nam, mùa xuân bắt đầu bằng những ngày tết, những ngày đoàn tụ gia đình. Những ngày giáp tết, ông bà cha mẹ ở nhà trông ngóng con cháu đi xa trở về, còn con cháu ở nơi xa dù đã thành danh, công tác hay còn đi học …cũng trông mong được trở về xum vầy bên những người thân trong ba ngày tết. Sự trở về của những đứa con, dù sống trên quê hương hay phiêu bạt khắp năm châu, còn là dịp để thể hiện lòng thành kính, tri ân và nhớ về tổ tiên.

Không chỉ là ngày lễ của người sống, những người đã chết cũng thực sự tham dự vào cuộc sống của gia đình và con cháu trong ba ngày tết. Ngày 23 tháng Chạp, người ta tổ chức tiễn ông Táo về trời, và sau đó là mời tổ tiên về cùng “ăn” tết với gia đình. Vào thời khắc giao thừa và sáng mùng Một tết, gia đình nghèo khó hay giàu sang đều cố gắng sắm sửa mâm cỗ thịnh soạn hoặc chí ít là mâm cơm đạm bạc để dâng lên ông bà, mong phù hộ cho một năm mới bình an, vạn sự như ý.

Với các tín đồ Công giáo, huấn thị “Plane compertum est” của Đức Thánh Cha Piô XII ngày 08/12/1939 đã công nhận những nghi lễ thờ cúng ông bà tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ ở Việt nam. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cũng đã có những quy định và những giáo huấn liên quan đến việc thờ phượng ông bà tổ tiên trong sứ mạng truyền giáo tại Việt Nam.

Từ đó nhiều phong tục đẹp mà cha ông đã lưu truyền từ đời này sang đời khác được đưa vào trong các nghi lễ Công giáo. Những ngày giáp tết, gia đình nào cũng sửa sang bàn thờ (trên là Thiên Chúa - dưới là gia tiên), ra nghĩa trang sửa sang, chăm sóc phần mộ ông bà. Và trong ngày đầu xuân, nhiều gia đình đã đến nhà chờ Phục Sinh của giáo xứ, hoặc ra nghĩa trang viếng mộ ông bà cha mẹ hoặc những người thân yêu trong gia đình.
Cũng trong truyền thống đạo hiếu của dân tộc trong những ngày khởi đầu một năm mới, Giáo hội Công giáo Việt Nam dành ngày mồng Hai tết để kính nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, là những bậc có công thông truyền sự sống cho chúng ta. Ai cũng mong được đón nhận những giờ phút linh thiêng nhất của ngày đầu năm bên cha mẹ ông bà dù còn sống hay đã qua đời.
Ngày mùng Hai tết, các người thân trong gia đình cùng nhau đến nhà thờ với tâm trạng bồi hồi xúc động. Có những gia đình đông vui với những mái đầu xanh bên mái đầu bạc, có những gia đình quạnh quẽ vơi bóng người thân … nhưng tất cả đều cùng nhau hiệp dâng Thánh lễ thật sốt sắng để tưởng nhớ tổ tiên, ông bà cha mẹ và những người thân đã qua đời của mình. Trong Chúa Giê-su Ki-tô phục sinh, họ tin rằng niềm vui tết của họ chỉ là tạm bợ và chỉ là hình bóng của niềm vui vĩnh cữu trên thiên đàng. Nơi mà tổ tiên, ông bà cha mẹ và những người thân đi trước đang hưởng một mùa xuân đích thực, bất tận và hạnh phúc viên mãn.

Tứ thời xuân tại thủ
Bách hạnh hiếu vi tiên.
(Xuân khởi đầu bốn mùa
Hiếu đứng trên trăm nết)

Trong đời sống người Kitô hữu, chữ Hiếu càng được quý trọng hơn vì đó là một trong 10 Điều Răn mà Thiên Chúa trao ban cho con người: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi (Xh 20,12).

Chúa Giêsu cũng nhắc lại lời ông Mô-sê: “Ngươi phải thờ cha kính mẹ, kẻ nào nguyền rủa cha mẹ thì phải bị xử tử” (Mc 7,10). Ngài phản đối việc hiếu kính “giả tạo” của con người, mặc dù đã được che đậy qua nhiều lễ nghi, phong tục, truyền thống. Khiển trách những luật sĩ và biệt phái về việc áp dụng sai luật Chúa. Đối với họ, đã dâng lễ vật cho Chúa rồi thì họ không còn bổn phận giúp cha mẹ nữa.

“Quả thế, Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Còn các ông, các ông lại bảo: "Ai nói với cha với mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy không phải thờ cha kính mẹ nữa". Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa.” (Mt 15,4-6)

Người Công giáo Việt Nam ngay từ lúc học giáo lý vỡ lòng đã được dạy dỗ: “Thảo kính cha mẹ là yêu mến, biết ơn, vâng lời và giúp đỡ cha mẹ khi còn sống và đã qua đời.” (sách giáo lý Tân Định)

Khi cha mẹ  còn sống nếu con cái chỉ tỏ lòng yêu mến và  biết ơn thì chưa đủ, còn phải thực hiện bằng việc làm là giúp đỡ cha mẹ, nhất là  khi các ngài đã về già. Tuổi già với những khó khăn, hạn chế về thể xác là kết qủa của những tháng ngày dài vất vả nuôi dạy con cái, vì thế việc chăm sóc cha mẹ già không phải là dễ. Nhiều người đã coi cha mẹ già là một gánh nặng nên đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, hoặc cung phụng cho cha mẹ tiền bạc rồi cho đó là thảo hiếu cha mẹ, nhưng không hề về thăm hỏi cha mẹ dù là ngày lễ, tết (vì bận đi du lịch, thư giãn...!).

Khi cha mẹ qua đời, con cái vẫn còn bổn phận giúp đỡ cha mẹ qua Thánh lễ và kinh nguyện hàng ngày vì các ngài chỉ an nghỉ về mặt thể xác nhưng phần hồn vẫn còn hiện diện và trông chờ con cháu cầu nguyện cho các ngài. Nhất là trong những ngày đầu năm mới, ngày linh thiêng của người Ki-tô hữu, ngày mà bất kỳ người con nào cũng không được phép quên cha mẹ đã qua đời của mình, dù tóc đã bạc, răng đã long. Mỗi người con phải để cao bổn phận làm con của mình cho thế hệ mai sau được biết, để thế hệ này qua đi, vẫn còn có thế hệ kế tiếp sẽ làm công việc đền ơn báo nghĩa trong những ngày đầu năm mới.
Thắp lên những nén hương thơm ngày tết, chúng ta dâng lời tạ ơn Thiên Chúa là cội nguồn sự sống đã tạo dựng nên muôn loài, tứ thời Xuân Hạ Thu Đông; tạ ơn Thiên Chúa đã cho ông bà cha mẹ sinh ra chúng ta làm người. Chúng ta tri ân các ngài vì công ơn sinh thành, dưỡng dục và không chỉ thông truyền sự sống làm người cho chúng ta mà còn thông truyền cả sự sống đức tin cho chúng ta.
Chúng ta có được như ngày hôm nay chính là nhờ công ơn của các ngài: những giọt mồ hôi, những vất vả, những lắng lo và hy sinh tột bực có khi phải đổ cả máu đào để nuôi dưỡng không chỉ phần xác mà còn cả phần hồn chúng ta. Các ngài như gốc mai đại thụ sù sì già cỗi để cho chúng ta là những cánh hoa vàng rực rỡ khoe sắc trong nắng xuân. Công ơn ấy cao ngất tựa Thái Sơn, bao la như biển Thái Bình mà những kẻ làm con không bao giờ đáp đền cho đủ.
Xin các ngài bầu cử cho chúng ta là con cháu, mỗi năm thêm một tuổi mới được sống xứng đáng hơn với kỳ vọng của các ngài. Biết dạy cho con cháu nhìn lại quá khứ để hãnh diện với công lao của tổ tiên và bảo tồn truyền thống “uống nước nhớ nguồn” cao đẹp. Góp phần làm rạng rỡ gia phong, cùng như góp phần xây dựng cộng đồng mỗi ngày một tốt đẹp hơn.
Chúng ta cũng không quên cầu nguyện cho những bậc sinh thành của chúng ta còn tại thế. Xin Chúa ban cho các ngài được hồn an xác mạnh, vui hưởng tuổi già bên “con đàn cháu đống”, mỗi ngày một thêm phúc Đức, làm trụ cột cho con cháu noi theo.
Xin Thiên Chúa ban muôn muôn ơn lành để các đoàn thể, khu xóm, gia đình trong giáo xứ luôn yêu thương và hiệp nhất trong năm Tân Phúc Âm hóa đời sống giáo xứ và các cộng đoàn sống đời thánh hiến. Xin Chúa liên kết mọi người trong tình yêu Chúa để mai sau tất cả chúng ta sẽ được quây quần bên Chúa, vui hưởng mùa xuân bất diệt trên thiên quốc. Amen.

Jos. Hoàng Mạnh Hùng
Xuân Ất Mùi 2015



Đã đăng trên:
http://www.thanhlinh.net/node/84862
http://gdpttthathocmon.org/?p=4580#more-4580

THƠ XUÂN ẤT MÙI



Tất niên


Tất niên Giáp Ngọ ngày cùng tận
Ất Mùi năm mới đón Xuân sang
Tạ ơn Chúa tháng ngày năm cũ
Xin dâng Ngài cuộc sống tương lai

Đoàn chúng con Gia đình Phạt tạ
Lấy Tình thương đáp trả tình thương
Đền Tạ kinh miệng luôn chúc tụng
Tôn Vương Ngài chúa tể gia đình

Thánh Tâm Cha tuôn trào phúc thánh
Trái tim con mến Chúa yêu người
Sẻ chia nhau đời vui Bác ái
Trông chờ Xuân cõi phúc Thiên đình.

Giao thừa

Có nụ mai nào vừa chớm nở
Sân nhà ai thấp thoáng hương bay
Những ánh nến lập lòe khẽ báo
Phút giao thừa cũ – mới luân phiên

Trong rộn rã chuông nhà thờ đổ
Xuân tràn về khắp cõi nhân gian
Chợt tỉnh giấc một trời ấm áp
Những người xưa hồn cũng quay về

Xin trở lại thềm Xuân xưa cũ
Lúc ngây thơ náo nức giao thừa
Như hoa lá hồn nhiên đón nắng
Đón Chúa Xuân lòng bỗng an bình.


Ngày cuối năm Giáp Ngọ 2014


Đã đăng trên: